Chuyên đề Văn học trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX

1/ Bối cảnh lịch sử
Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, đất nước không còn giặc ngoại xâm, kinh tế phát triển nhưng bước đầu có dấu hiệu khủng hoảng về chính trị (mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp phong kiến, giữa nhân dân với giai cấp phong kiến thống trị xuất hiện, ngày càng trở nên gay gắt dẫn đến các cuộc chiến tranh chia cắt và khởi nghĩa nông dân bùng nổ.) Đời sống nhân dân khổ cực.
Từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam, giai cấp phong kiến Việt Nam bộc lộ bản chất tàn bạo, phản động một cách trắng trợn và sâu sắc: ngai vàng mục ruỗng, các tập đoàn phong kiến tranh chấp chém giết lẫn nhau giành ngôi bá chủ. Phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp, tiêu biểu là phong trào Tây Sơn đã quét sạch ba tập đoàn phong kiến (Trịnh, Nguyễn, Lê).
Nguyễn Ánh lật đổ Tây Sơn thiết lập vương triều Nguyễn, thống nhất đất nước từ Nam ra Bắc. Triều Nguyễn bảo thủ , phản động đẩy nước ta vào thảm họa bị xâm lược.
2/ Tình hình văn học (sự phát triển, đặc điểm nổi bật).
a. Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học trung đạiViệt Nam bao gồm cả văn học chữ Hán, chữ Nôm, văn học bác học, văn học bình dân.
b. Lực lượng sáng tác: đại đa số những tên tuổi chói lọi trên văn đàn là những trí thức nho sĩ không giữ các trọng trách trong triều đình.
c. Thể loại rất phong phú, gồm: truyện ký, thơ Đường luật, khúc ngâm, truyện thơ…
d. Giá trị nội dung nổi bật của văn học giai đoạn này là biểu hiện cảm hứng nhân đạo.
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX Người viết: Trần Thị Thanh Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Vĩnh Tường Đối tượng bồi dưỡng: Học sinh giỏi lớp 9 Số tiết: 20 MỞ ĐẦU Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, văn học trung đại từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX đã có những đóng góp không nhỏ. Giai đoạn văn học này đã để lại một di sản vô cùng quý báu, đồ sộ về khối lượng, phong phú, đa dạng về nội dung, đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệ thuật. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với truyền thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ “mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam” (Phạm Văn Đồng) Ta cần và có thể tìm thấy trong di sản này những điều giúp ta ôn lại quá khứ vinh quang nhưng không ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn. Đối với nhà trường, di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ...... cho học sinh, thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu. 115 b. Lực lượng sáng tác: đại đa số những tên tuổi chói lọi trên văn đàn là những trí thức nho sĩ không giữ các trọng trách trong triều đình. c. Thể loại rất phong phú, gồm: truyện ký, thơ Đường luật, khúc ngâm, truyện thơ d. Giá trị nội dung nổi bật của văn học giai đoạn này là biểu hiện cảm hứng nhân đạo. Đó là tiếng nói cảm thương với số phận con người đặc biệt là số phận của người phụ nữ đồng thời là tiếng nói ngợi ca trân trọng họ. Văn học giai đoạn này cũng lên án xã hội phong kiến, đấu tranh đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người. e. Các tác giả ,tác phẩm tiêu biểu ST Tác phẩm Tác giả Học Số tiết Ghi chú T ở lớp 1 Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ 9 2 2 Truyện Kiều - “Truyện Kiều” của Nguyễn 1 Du - Các đoạn trích: + Cảnh ngày xuân Nguyễn Du 9 1 + Chị em Thúy Kiều 1 + Kiều ở lầu Ngưng Bích 1 + Mã Giám Sinh mua Kiều Đọc thêm + Thúy Kiều báo ân báo oán Đọc thêm 3 “Truyện cũ trong phủ chúa Phạm Đình Hổ 9 Trịnh” (trích “Vũ Trung tùy bút”) 4 Hoàng Lê nhất thống chí- hồi Ngô gia văn phái 9 2 117 ngòi bút vào hiện thực. Bối cảnh đó chính là cơ sở sâu xa làm xuất hiện quan niệm mới về nhân sinh, xã hội, con người. trong đó có trào lưu nhân đạo chủ nghĩa với tư tưởng chống đối các thế lực phong kiến chà đạp con người, đề cao con người, đòi giải phóng tình cảm cho con người. Nguyễn Du chính là một đại diện xuất sắc nhất của trào lưu này. * Về cảnh đời Nguyễn Du: - Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống văn học, có tư chất thông minh, ham học (góp phần hun đúc nên tài năng văn học Nguyễn Du). - Tuy xuất thân từ một gia đình quý tộc nhưng rồi suy sút, bản thân Nguyễn Du mồ côi sớm. - Qua trải đời, vốn sống của nhà thơ rất phong phú (chất liệu cho sáng tác). Tiếp xúc với bao cảnh đời bi thảm, trái tim nhà thơ cảm thông, yêu thương vô hạn với con người. Tóm lại: Với năng khiếu văn chương bẩm sinh, vốn sống vô cùng phong phú, trái tim yêu thương vô hạn với con người, trong bối cảnh cụ thể của thời đại đã tạo nên thiên tài Nguyễn Du. B. Những đặc sắc trong sáng tác của Nguyễn Du. B.1/ Nguyễn Du - “một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”. 1. Cơ sở của vấn đề. Sống trong một thời kì đen tối - chế độ phong kiến suy tàn, đưa đất nước, nhân dân vào tấn thảm kịch, Nguyễn Du đã chứng kiến một hiện thực đau lòng. Vốn có tấm lòng trong trẻo, trái tim nhân hậu, năng khiếu văn chương xuất sắc, ông đã để lại cho đời những áng thơ văn đích thực, thấm đẫm những nỗi niềm thương cảm, những yêu ghét rạch ròi. Từ những sáng tác chữ Hán, chữ Nôm mà đỉnh cao là Truyện Kiều, ta thấy đúng như Hoài Thanh nhận xét về đại thi hào, đó là “một trái tim lớn, một nghệ sĩ lớn”. 119 Trái tim của Nguyễn Du thật dễ xúc động, dễ tổn thương, sự đồng cảm của nó là không biên giới, không thời gian. Mọi nỗi buồn đau, thống khổ của kiếp người vang động đến đều có thể làm cho trái tim ấy rỉ máu. Ngòi bút của Nguyễn Du chấm vào thứ máu ấy mà viết lên những trang thơ. Trái tim mẫn cảm của Nguyễn Du giành phần thống thiết nhất cho thân phận bi kịch của những con người tài hoa, nhất là những người phụ nữ tài sắc. Ông xót thương cho Tiểu Thanh (Độc Tiểu Thanh kí), cho nàng KIều (Truyện Kiều). Niềm cảm thông, thương xót của Nguyễn Du dành cho Thúy Kiều thật sâu sắc. Mười lăm năm lưu lạc đời Kiều, Nguyễn Du lận đận theo nàng trên từng trang sách. Ông bồi hồi trước mối tình đầu của nàng, ông đau đớn khi nàng ra đi dấn thân vào quãng đường đời ô nhục , ông nhìn thấu cuộc đời đau khổ, số phận bèo bọt của người con gái tài sắc ấy để rồi thốt lên đầy thương cảm: “Thương thay cũng một kiếp người Hại thay mang lấy sắc tài làm chi” * Thương xót và căm phẫn, trái tim Nguyễn Du đã phẫn nộ trước những thế lực chà đạp con người. - Ngòi bút Nguyễn Du đã tố cáo bọn quan lại cường quyền độc ác, bỉ ổi, đê tiện (Truyện Kiều, Phản chiêu hồn, Sở kiến hành). - Ông căm ghét lên án thế lực đồng tiền hắc ám (Truyện Kiều). Nguyễn Du là người đầu tiên trong lịch sử văn học Việt nam đã phác hoạ ra một bức tranh xã hội toàn diện, lấy những đau khổ của những con người đương thời để nêu lên thành những vấn đề chung, thành vấn đề của con người trong xã hội có áp bức, bóc lột. Đó là một tinh thần nhân đạo bao quát của Nguyễn Du. Cái thế giới làm cho ông cảm thương, xót xa là cái thế giới của tất cả những người bị giày xéo, đoạ đày về thể xác cũng như tinh thần. Lời tố cáo của Nguyễn Du là lời tố cáo đánh vào những kẻ, những chế độ chà đạp lên con người. Tinh thần nhân đạo của Nguyễn Du đã vạch rõ ranh giới giữa yêu và ghét. 121 xứng đáng được coi là một thiên tài văn học, một danh nhân văn hoá tầm cỡ nhân loại. Như M.Gorki, Puskin, Lỗ Tấn..., tên tuổi và sự nghiệp của ông làm rạng danh cho nền văn hoá dân tộc và thế giới. B.2/ Nghệ thuật miêu tả và khắc họa tính cách nhân vật trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. 1. Miêu tả ngoại hình: (Qua các đoạn trích: “Chị em Thúy Kiều”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều gặp Kim Trọng”, “Kiều gặp Từ Hải”). Miêu tả ngoại hình độc đáo : sự dụng ước lệ, ẩn dụ, tượng trưng, so sánh; dùng từ “đắt”. Qua nét vẽ ngoại hình hé lộ phẩm chất, tính cách và cả số phận nhân vật. 2. Miêu tả hành động, cử chỉ, ngôn ngữ nhân vật. Miêu tả cụ thể hành động, lời nói của nhân vật (Mã Giám Sinh mua Kiều) Dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm (Kiều ở lầu Ngưng Bích). Dùng ngôn ngữ đối thoại ( Thúy Kiều báo ân báo oán). Khắc họa tính cách. Đặt nhân vật vào những cảnh ngộ đặc biệt, dự báo về số phận. 3. Nghệ thuật miêu tả nội tâm, phân tích tâm lí. Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế (“Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Kiều báo ân báo oán). - Trực tiếp (Mã Giám Sinh mua Kiều). - Gián tiếp - bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình (Kiều ở lầu Ngưng Bích). Khắc họa tính cách, số phận nhân vật 4. Xây dựng nhân vật theo hai tuyến với bút pháp riêng. a. Tuyến nhân vật chính diện (Thúy Kiếu, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải). - Xây dựng theo lối tưởng tượng hóa - Miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng. 123 - “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” - “Cậy em em có chịu lời” - “Chẳng ngờ gã Mã Giám Sinh” Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, phong phú, sáng tạo. - Tả nhân vật chính diện, Nguyễn Du sự dụng những ngôn ngữ có tính ước lệ, trang trọng. - Tả nhân vật phản diện, Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ trực diện. - Tả cảnh: ngôn ngữ chọn lọc tinh tế, giàu sức gợi . - Tả cảnh ngụ tình: ngôn ngữ hàm súc, đa nghĩa. Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, phong phú, sáng tạo. 2.2/ Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trau chuốt, tinh tế với các từ gợi thanh, gợi hình và các biện pháp tu từ đặc sắc. 2.3/ Từ tiếng nói hằng ngày của nhân dân tiếp theo là của các nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc ở các đời trước, Nguyễn Du tạo ra tiếng nói văn học dồi dào, giản dị mà chính xác, uyển chuyển, đầy hình ảnh và âm điệu. - Từ địa phương - Thành ngữ, tục ngữ. - Từ Hán Việt. Hai thành phần ngôn ngữ - bình dân, bác học kết hợp với nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thứ ngôn ngữ nghệ thuật thơ ca vừa hàm súc, trang nhã vừa giản dị, văn vẻ, giàu hình ảnh và âm điệu, đạt tới đỉnh cao chói lọi có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam. 3. Kết luận. Như vậy, đến “Truyện Kiều” tiếng Việt đã đạt đến đỉnh cao của ngôn ngữ nghệ thuật không chỉ có chức năng biểu đạt (phản ánh), biểu cảm (biểu hiện cảm xúc) mà còn có chức năng thẩm mĩ (vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ, âm điệu hình tượng). Tiếng Việt trong Truyện Kiều hết sức giàu và đẹp. 125 + Nỗi đau khổ, oan nghiệt của Vũ Nương trong “ Truyện người con gái Nam Xương” – Nguyễn Dữ. + Cuộc đời trầm luân, dâu bể đầy bất hạnh của Thúy Kiều trong “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du. + Dưới chế độ phong kiến, nhiều thế lực hắc ám trong xã hội đã vùi dập, chà đạp lên thân phận người phụ nữ. - Vua chúa, quan lại xa đọa, tàn ác đã đày đọa cuộc đời người phụ nữ xưa ( qua “Cung oán ngâm khúc”, “Truyện Kiều). - Chiến tranh phong kiến gieo bao nỗi bất hạnh cho họ. “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm là tiếng kêu xé lòng của người phụ nữ có chồng bị cuốn vào vòng chiến tranh ấy. - Người phụ nữ còn chịu biết bao đau khổ bởi những hủ tục, thành kiến bất công, hẹp hòi: tư tưởng trọng nam khinh nữ, chế độ đa thê 2.3/ Thái độ của các tác giả khi viết về người phụ nữ. Các nhà văn, nhà thơ đã thể hiện lòng trân trọng đặc biệt với người phụ nữ khi khắc họa, ngợi ca vẻ đẹp của họ. Phản ánh những bi thảm của người phụ nữ, các tác giả không giấu nổi lòng xót xa, đau đớn. 3. Ý nghĩa của vấn đề. Qua hình tượng người phụ nữ, các tác giả văn học thế kỉ XVI – XIX đã góp vào trào lưu nhân đao chủ nghĩa một nội dung hết sức phong phú, góp vào tiếng nói đòi giải phóng con người, đặc biệt là người phụ nữ. 127
Tài liệu đính kèm:
chuyen_de_van_hoc_trung_dai_viet_nam_giai_doan_tu_the_ky_xvi.doc