SKKN Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4 - 5 tuổi

SKKN Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4 - 5 tuổi

Trong thực tế chúng ta đã biết nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa tùy theo độ tuổi mà giáo dục khác nhau tuổi mầm non trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ đặc biệt là dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng Việt dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, hay còn gọi cách khác là tiếng phổ thông.

Chính vì vậy việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần quan tâm nhằm hình thành kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng Việt ở các bậc học theo ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ dân tộc phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt. Việc phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học hàng ngày trên lớp.

Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là thứ công cụ thiết yếu để trẻ giao tiếp, để liên hệ với người khác qua giao lưu trao đổi ngôn ngữ, để diễn đạt ý kiến, bày tỏ tình cảm của mình .vv. Ngôn ngữ còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt động trí óc khi suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo. Ngoài những hình ảnh “ chụp ” được từ các sự vật hiện tượng xung quanh người ta còn phải tự nói thầm, trong những trường hợp đó ngôn ngữ được phát ra thành lời nói để diễn đạt những suy nghĩ của mình. Nhưng những âm, những tiếng của câu nói phát ra có chuẩn xác hay không ta còn phải rèn luyện kỹ năng nói chuẩn xác Tiếng Việt cho trẻ, ngay từ trường Mầm non để cung cấp thêm vốn từ cho trẻ.

Ngôn ngữ càng phong phú thì việc hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng như việc học hành nghiên cứu diễn ra càng thuận lợi hơn. Việc sử dụng ngôn ngữ để trao đổi được thực hiện trong xuốt quá trình học tập và đời sống sinh hoạt hàng ngày.

 

doc 26 trang thuychi01 19/05/2020 18699
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4 - 5 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
STT
NỘI DUNG
TRANG
1
1.Mở đầu
1
2
1.1 .Lý do chon đề tài
1
3
1.2.Mục đích nghiên cứu
2
4
1.3.Đối tượng nghiên cứu
2
5
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2
6
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
3
7
2.1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
3
8
2.2. Thực trạng vấn đề
4
9
2.3. Các biện pháp thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
7
10
2.4.Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm
16
11
3. Kết luận, kiến nghị
17
12
3.1.Kết luận
17
13
3.2. Kiến nghị
18
1.Mở đầu 
1.1. Lý do chọn đề tài:
Trong thực tế chúng ta đã biết nhiệm vụ giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa tùy theo độ tuổi mà giáo dục khác nhau tuổi mầm non trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ đặc biệt là dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng Việt dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng Việt, hay còn gọi cách khác là tiếng phổ thông. 
Chính vì vậy việc cung cấp Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề cần quan tâm nhằm hình thành kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng Việt ở các bậc học theo ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ dân tộc phát triển tốt sẽ giúp cho trẻ nhận thức và giao tiếp tốt. Việc phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học hàng ngày trên lớp. 
Như chúng ta đã biết ngôn ngữ là thứ công cụ thiết yếu để trẻ giao tiếp, để liên hệ với người khác qua giao lưu trao đổi ngôn ngữ, để diễn đạt ý kiến, bày tỏ tình cảm của mình.vv. Ngôn ngữ còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt động trí óc khi suy nghĩ, tưởng tượng, sáng tạo. Ngoài những hình ảnh “ chụp ” được từ các sự vật hiện tượng xung quanh người ta còn phải tự nói thầm, trong những trường hợp đó ngôn ngữ được phát ra thành lời nói để diễn đạt những suy nghĩ của mình. Nhưng những âm, những tiếng của câu nói phát ra có chuẩn xác hay không ta còn phải rèn luyện kỹ năng nói chuẩn xác Tiếng Việt cho trẻ, ngay từ trường Mầm non để cung cấp thêm vốn từ cho trẻ.
Ngôn ngữ càng phong phú thì việc hoà nhập với cuộc sống xã hội cũng như việc học hành nghiên cứu diễn ra càng thuận lợi hơn. Việc sử dụng ngôn ngữ để trao đổi được thực hiện trong xuốt quá trình học tập và đời sống sinh hoạt hàng ngày.
Năm học 2017-2018 nhà trường phân công tôi đứng lớp 4-5 tuổi với 100% trẻ là người dân tộc thiểu số (dân tộc mường). khả năng giao tiếp và sử dụng Tiếng Việt của trẻ còn hạn chế, môi trường Tiếng Việt của trẻ chỉ thu gọn trong trường lớp mầm non vì vậy để chuẩn bị tốt khả năng sử dụng Tiếng Việt cho trẻ giúp trẻ phát âm thành thạo lưu loát thì cần chuẩn bị tốt Tiếng Việt ban đầu cho trẻ bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo ở trẻ bằng các phương pháp giáo dục như: Qua trò chuyện, quan sát đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, qua dạo chơi ngoài, qua chơi hoạt động góc, qua hoạt động vui chơi mọi lúc mọi nơi giúp trẻ học tập có hiệu quả thông qua các thủ thuật lôi cuốn, gây hứng thú trẻ, lôi cuốn trẻ đảm bảo cho trẻ tự tin không lo lắng khi học Tiếng Việt.
Chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số là một vấn đề rất thiết thực trong giảng dạy trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số hiện nay nói chung và lớp mẫu giáo 4-5 tuổi (Thôn Muốt) Trường Mầm Non Cẩm Thành nói riêng. Chính vì vậy muốn nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ cần phải chuẩn bị tốt Tiếng Việt cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi có nguồn Tiếng Việt tốt để bước vào lớp lớn và các lớp học sau này tôi đã lựa chọn đề tài: “ Một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi”
1.2. Mục đích nghên cứu:
 Bản thân nghiên cứu đề tài này với mục đích tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số. Việc làm hết sức cần thiết, tưởng chừng như rất dễ nhưng thực tế lại rất khó, mà nó đòi hỏi cả một quá trình, phải có sự kiên trì của cả giáo viên và trẻ. Dạy trẻ làm quen với Tiếng Việt là dạy cái gì? dạy như thế nào? Trẻ làm quen với Tiếng Việt với tư cách là bộ môn khoa học hay với tư cách là một công cụ, một phương tiện giao tiếp. Cách trả lời những câu hỏi trên sẽ liên quan tới việc lựa chọn nội dung, phương pháp cho trẻ dân tộc tiếp cận, làm quen dần với Tiếng Việt. 
Bởi việc dạy trẻ biết nói Tiếng Việt là nội dung hết sức quan trọng trong nội dung giáo dục mầm non. Phát triển ngôn ngữ là một trong 5 lĩnh vực của giáo dục: phát triển thể chất, phát triển quan hệ tình cảm xã hội, phát triển nhận thức, phát triển thẩm mỹ và phát triển ngôn ngữ. Vì vậy từ khi trẻ học ở trường mầm non giáo viên phải có nhiệm vụ xây dựng vốn ngôn ngữ ban đầu cho trẻ. 
Tôi nhận thức rõ sự khác nhau về khả năng diễn đạt ngôn ngữ giữa trẻ này với trẻ khác để khi rèn luyện ngôn ngữ cho trẻ dân tộc đạt kết quả tốt nhất, tập cho trẻ nói đúng Tiếng Việt giáo viên phải có những phương pháp phù hợp với từng độ tuổi, từng trường, từng vùng địa phương. Khi nghiên cứu đề tài này tôi thực sự muốn trao dồi về ngôn ngữ và khả năng nói Tiếng Việt thành thạo, lưu loát cho trẻ để giúp trẻ phát triển toàn diện.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Tổng hợp một số biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số 4-5 tuổi. Nhằm tăng cường nguồn Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, để trẻ có thể học tập và giao lưu, giao tiếp hằng ngày lưu loát bằng Tiếng Việt thứ tiếng chung của quốc gia. 
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Phương pháp này bản thân đã dựa vào tài liệu tham khảo để làm cơ sở lý thuyết để nghiên cứu.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Khi nghiên cứu đề tài này bản thân đã điều tra và khảo sát thực tế về đối tượng trẻ và thực tế lớp đang trực tiếp giảng dạy.
 Phương pháp thu thập thông tin: Đối với phương pháp này bản thân đã thu thập mọi thông tin, có liên quan đến nội dung đề tài như tài liệu nghiên cứu, trông tin về lớp, về trẻ, về các hoạt động trong của trẻ. 
 Phương pháp thống kê: Từ những phương pháp trên tôi đã thống kê và mô tả lại thực trạng, đưa ra hướng giải quyết vấn đề trong qua trình nghiên cứu.
 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
 2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
 Ngày 2 tháng 6 năm 2016, Thủ tướng chính phủ phê duyệt quyết định số 1008/QĐ-TTg về đề ắn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mầm non và học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025”. Thực hiện Quyết định số 1682/QĐ-UBND ngày 23/5/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025”. Phòng Giáo dục đã tham mưu QĐ số 900 ngày 22 tháng 06 năm 2016 kèm theo kế hoạch thực hiện giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025” đến từng địa phương để thực hiện và nhà trường đã cụ thể hóa QĐ theo giai đoạn và từng năm học cụ thể tại nhà trường.
Qua quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ dân tộc thiểu số, cho thấy việc làm quen Tiếng Việt và chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số có tác động rất lớn đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ sau này.
Việc học Tiếng Việt của trẻ dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên, vì trong mỗi chủ đề chủ điểm giáo viên sẽ dạy trẻ cái gì và cần dạy như thế nào để trẻ dễ hiểu, dễ nhớ, hứng thú tham gia vào các hoạt động, phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo ở trẻ.
Ngôn ngữ cho trẻ giao tiếp là một chủ thể tích cực, là tiền đề để trẻ tích cực giao tiếp với bạn bè và chủ động trong giao tiếp. Trong cuộc sống hằng ngày, con người sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại, thảo luận, trình bày hiểu biết suy nghĩ, giải thích vấn đề nào đó trong cuộc sống như: Kể lại được sự việc, câu chuyện đã đươc nghe, được chứng kiến, hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra. Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của cô của những người của những người xung quanh. Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo ngôn ngữ Tiếng Việt.
Muốn phát triển kỹ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng Việt theo cô, trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, qua chơi hoạt động góc, chơi ngoài trời, hoạt động vui chơi mọi lúc, mọi nơi ... Là vô cùng quan trọng nhưng hình thành như thế nào đây mới thật là điều không phải dễ. 
Trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu bắt đầu học Tiếng Việt trên cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là Tiếng Việt. Môi trường giáo tiếp Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian (trong phạm vi trường lớp mầm non). Việc học Tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ thứ nhất là sự giáo thoa ngôn ngữ giữa tiếng mẹ đẻ với Tiếng Việt. 
Sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, trong đó có khía cạnh ngôn ngữ cũng ảnh hưởng tới việc học Tiếng Việt của trẻ mẫu giáo dân tộc thiểu số. Sự khác biệt về điều kiện sống của các dân tộc thiểu số có tác động nhất định đối với việc học Tiếng Việt của trẻ em mẫu giáo dân tộc thiểu số. 
Một số dân tộc sống ở khu vực gần nơi có nhiều người Kinh sinh sống, Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung giữa các dân tộc trong cộng đồng đó nên việc học Tiếng Việt của trẻ có nhiều thuận lợi. Một số dân tộc sống ở vùng sâu, điều kiện sống tách biệt, hoặc khu vực chỉ có một dân tộc thuần túy, không có nhu cầu giao tiếp giữa các dân tộc với nhau và Tiếng Việt không phải là ngôn ngữ giao tiếp chung trong cộng đồng, chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp nên trẻ em ở môi trường này chỉ có duy nhất kinh nghiệm ngôn ngữ trong phạm vi tiếng mẹ đẻ.
Ngoài ra, do đời sống kinh tế còn khó khăn, đại bộ phận các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu các phương tiện thông tin như máy thu thanh, vô tuyến truyền hình, sách báo... trình độ văn hóa của các bậc cha mẹ còn thấp, một bộ phận không biết đọc, biết viết nên khi ở nhà trẻ em ít có cơ hội giao tiếp với những người thân trong gia đình và cộng đồng bằng Tiếng Việt. Phần lớn trẻ em dân tộc thiểu số trước khi tới trường, lớp mầm non đều sống trong môi trường tiếng mẹ đẻ không phải là Tiếng Việt, ít có môi trường giao tiếp bằng Tiếng Việt.
 Khi đến trường, trẻ em thích trao đổi với nhau bằng tiếng mẹ đẻ và có thói quen giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ trong hoạt động chơi, trò chuyện hàng ngày và thậm chí ngay cả trong môi trường học tập. Do đó, trẻ em dân tộc thiểu số sẽ không có vốn Tiếng Việt ban đầu cần thiết để học tập bằng Tiếng Việt ở trường phổ thông nếu không được chuẩn bị Tiếng Việt 
Tiếng Việt rất qua trọng đối với người dân Việt Nam. Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số. Song thực tế hiện nay đa số trẻ vúng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường chỉ sống trong gia đình, ở trong thôn bản nhỏ trong môi trường tiếng mẹ đẻ do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu ngữ, trẻ biết rất ít hoặc thậm chí không biết Tiếng Việt và cơ sở giáo dục khác. 
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1.Thuận lợi
Được sự quan tâm của sở giáo dục và phòng giáo dục tổ chức lớp tập huấn chuyên đề “ Hướng dẫn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số trong cơ sở giáo dục mầm non”
Dưới sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường về chuyên môn, xây dựng phương pháp đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non tạo mọi điều kiện giúp tôi những tài liệu dạy học, nguyên vật liệu làm đồ dùng, đồ chơi dạy học.
Được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương đến giáo dục mầm non đã từng bước chăm lo cho cơ sở vật chất nhà trường, cho lớp học tai địa phương.
Được sự ủng hộ từ phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng của bậc học mầm non nên luôn quan tâm đến việc chăm sóc giáo dục trẻ. Đã quan tâm trong việc phối hợp với nhà trường, giáo viên để chăm sóc con em mình. Luôn giúp đỡ tạo điều kiện để hỗ trợ cô giáo như: Ủng hộ cao các khoản đóng góp xã hội hóa giáo dục; tham gia làm đồ chơi cùng; sưu tầm đóng góp phế liệu để làm đồ dùng đồ chơi như: vải vụn, bông , chai lọ để làm đồ chơi phục vụ cho môn học từ đó quá trình phát triển ngôn ngữ của được nâng lên.
Đặc điểm của lớp tôi được phân công phụ trách:
Lớp mẫu giáo 4-5 tuổi của tôi phụ trách tại thôn Muốt xã Cẩm thành Thuộc điểm lẻ của trường mầm non Cẩm Thành. Lớp học ở tại khu trung tâm thôn Muốt nên thuận lợi cho việc đưa đón trẻ đến lớp .
Bản thân luôn tâm huyết với nghề, yêu trẻ như con của mình .
2.2.2. Khó khăn
Cẩm Thành là một xã vùng cao đời sống kinh tế xa hội còn gặp nhiều khó khăn và đặc biệt là lớp tôi trực tiếp giảng dạy là một lớp điểm lẻ. Địa bàn sinh sống của toàn người dân tộc Mường và đặc biệt lớp tôi phụ trách 100% trẻ là người dân tộc Mường vì vậy khả năng truyền thụ bài học bằng ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ là một điều đặc biệt khó khăn.
Ngay cả người lớn cũng vậy việc phát âm chuẩn tiếng phổ thông cũng gặp những khó khăn. Ví dụ: Cán bộ thôn, bản là người dân tộc mường trong các cuộc họp đang triển khai bằng tiếng phổ thông là tiếng kinh cho mọi người nghe nhưng có những đoạn khó diễn đạt thì ông cán bộ đó lại sử dụng bằng tiếng địa phương của mình là tiếng mường. Hay có những người dân tộc đang giao tiếp bằng tiếng phổ thông lại nói lẫn cả tiếng dân tộc. 
Vì đa số chưa phát âm chuẩn tiếng phổ thông dẫn đến phát âm lẫn lộn, chưa rõ ràng làm cho người nghe hiểu sai lệch về nội dung diễn đạt. Điều này làm ảnh hưởng đến cách diễn đạt ý của trẻ, vì thế cần rèn luyện khả năng phát âm chuẩn, nói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông cho trẻ từ độ tuổi mẫu giáo là việc làm hết sức cần thiết. 
2.2.3. Kết quả thực trạng như sau 
Từ những nguyên nhân hạn chế trên trên tôi thấy việc rèn luyện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông cho trẻ còn hạn chế. Trẻ chưa thực sự hứng thú với hoạt động do giáo viên tổ chức vì trẻ còn ngại giao tiếp.
Các Trẻ dân tộc mường chưa nói rõ tiếng kinh, khi đến trường đến lớp giao tiếp cùng cô giáo, cùng bạn bè bằng tiếng phổ thông vẫn bị lẫn những câu bằng tiếng mường. Trẻ giao tiếp bằng tiếng phổ thông chủ yếu bằng mấy câu xã giao còn những điều cần diễn đạt hơi khó một chút trẻ lại sử dụng bằng tiếng địa phương của mình.
Ví dụ: Điện sáng trẻ nói “điện cháy”. Thịt gà - trẻ gọi - “canh”. Con Trâu- trẻ gọi con tru. Khi nói không những trẻ sử dụng tiếng địa phương mà khi phát âm trẻ còn phát âm ngọng, phát âm sai, ví dụ: Cô Thảo - trẻ gọi - Cô sảo; Cô Thơm - trẻ gọi – Cô Sơm. Bên cạnh đó trong quá trình học tập vui chơi và giao tiếp với mọi người trẻ thường nói lẫn dấu hỏi (?) sang dấu ngã (~), hoặc dấu (~) sang dấu (?), chữ S thành chữ Th, ví dụ: Con thỏ - trẻ gọi - Con sỏ; Con Lợn - trẻ gọi - Con cùnvv. Có nhiều cháu muốn nói lên ý kiến của mình cháu thường lúng túng trong khi diễn đạt ý của mình. 
Đấy chỉ là một trong một trong số rất nhiều ví dụ mà tôi muốn đưa ra. Cụ thể hơn tôi đã khảo sát thực trạng sử dụng Tiếng Việt và hiểu Tiếng Việt lớp tôi phụ trách như sau:
Kết quả khảo sát
TT
Tiêu chí
Tổng số trẻ
kết quả khảo sát
Tốt
Khá
TB
Yếu
1
Trẻ nói chưa chuẩn Tiếng Việt
13
2 = 15,4%
4=30,8%
5=38,5%
3=23,1%
2
Trẻ có thể nói và nghe được các câu bằng Tiếng Việt
13
3 = 23,1%
3 =23,1%
5=38,5%
3=23,1%
3
Trẻ biết sử dụng Tiếng Việt thường xuyên trong giao tiếp
13
2 =15,4%
3= 23,1%
4=30,8%
4=30,8%
Qua thực trạng khảo sát trên bản thân tôi thấy ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ. Nó không chỉ ảnh hưởng trong học tập về nhận thức cho trẻ mà còn ảnh hưởng trong quan hệ xã hội tác động đến trẻ rất nhiều. Ngôn ngữ Tiếng Việt còn là phương tiện thể hiện tình cảm, thái độ ước mơ và nhu cầu giao tiếp của trẻ. Nhu cầu giao tiếp, mong muốn được nói chuyện với người xung quanh ở trẻ có từ rất sớm, vì vậy giáo viên phải khuyến khích trẻ thực hiện những mong muốn đó. Chỉ có ở trường mầm non trẻ mới được những chuẩn mực về ngôn ngữ mà cô giáo cũng là người trực tiếp cung cấp các vốn từ và uốn nắn cho trẻ chuẩn mực trong phát âm Tiếng Việt.
Để khắc phục vấn đề còn vướng mắc trong thực hiện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt trong hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn tôi đã mạnh dạn trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp một số nội dung, phương pháp nói đúng Tiếng Việt cho trẻ.
2.3. Các biện pháp thực hiện.	
2.3.1. Biện pháp 1: Xác định nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số.
Qua nghiên cứu bản thân tôi đã căn cứ vào nội dung giáo giục phát triển ngôn ngữ trong chương trình GDMN Nội dung cụ thể theo độ tuổi trong chương trình GDMN và tùy thuộc vào khả năng cụ thể của trẻ lớp tôi đang trực tiếp phụ trách.
	Tôi dựa vào chuyên đề hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số. Tôi luôn chú ý đến khả năng nghe nói Tiếng Việt đối với nhóm lớp.
Khả năng nghe của trẻ.
Nghe các từ chỉ sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt động các từ chỉ biểu cảm, từ chỉ khái quát.
Nghe lời nói trong giao tiếp hằng ngày.
Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi.
Khả năng Nói:
Phát âm rõ các tiếng trong Tiếng Việt 
Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các kiểu câu khác nhau.
Sử dụng đúng từ ngữ trong câu giao tiếp hằng ngày. Trả lời và đặt câu hỏi.
Đọc thơ, ca dao, đồng dao và kể chuyện.
Lễ phép và tự tin trong giao tiếp.
Nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ bản thân đã dựa vào kế hoạch giáo dục tháng hoặc chủ đề được lựa chọn trên cơ sở các nội dung giáo dục theo độ tuổi chương trình GDMN, phù hợp với khả năng Tiếng Việt của trẻ.
Nội dung tăng cường Tiếng Việt được tích hợp phù hợp với các nội dung giáo dục của các lĩnh vực phát triển.
Nội dung tăng cường Tiếng Việt cho trẻ có thể có nội dung được thực hiện trong một hoặc một số tháng hoặc chủ đề nhưng với những nội dung khuyến khích cho trẻ nghe, nói đúng ngữ pháp, các kiểu câu diễn đạt cảm xúc phù hợp cần chú ý trong tổ chức thực hiện theo hướng tích hợp thông qua các hoạt động giáo dục trong kế hoạch tất cả các chủ đề trong năm học.
 Hiểu rõ tầm quan trọng của bộ môn tăng cường Tiếng Việt chính là rèn luyện kỹ năng nghe và nói đúng Tiếng Việt cho trẻ Mầm non, nên Ban Giám Hiệu nhà trường đã đặc biệt quan tâm cho giáo viên đi tham quan dự giờ dạy mẫu ở các trường bạn, tạo điều kiện để giáo viên được tham gia gia đầy đủ các chuyên đề đặc biệt là chuyên đề “ cho trẻ làm quen Tiếng Việt” để tham khảo thêm một số phương pháp, biện pháp rèn luyện cho trẻ kỹ năng nói đúng Tiếng Việt - tiếng phổ thông theo hướng đổi mới hình thức giáo dục. 
2.3.2. Biện pháp 2: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bằng cách trò chuyện với trẻ 
Nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng nói đúng Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, trẻ nói chưa chuẩn Tiếng Việt, diễn đạt câu còn vụng về, thiếu ý để chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp mẫu giáo lớn và các cấp học được tốt. Là người giáo viên chủ nhiệm trực tiếp đứng lớp 4-5 tuổi tôi luôn trăn trở suy nghĩ sau khi tìm hiểu thực trạng và trên cở sở lý thuyết tôi đã thử nghiệm một số thực trạng trên như sau: Cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ bằng cách trực tiếp trò chuyện với trẻ để tạo cho trẻ sự gần gũi thân thiết. Thực tế cho ta thấy rằng bất đồng ngôn ngữ là rất khó khăn trong giao tiếp, vì vậy ngay từ những buổi đầu trẻ đến lớp cô luôn ân cần gần gũi trò chuyện giao tiếp hỏi trẻ các câu hỏi hàng ngày trẻ thường va chạm hoặc cho trẻ quan sát các hình ảnh, đồ dùng, đồ chơi trong lớp để rèn Tiếng Việt cho trẻ. Như chúng ta đã biết khả năng tiếp thu của trẻ dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi đã nhớ được thì lại nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn Tiếng Việt bằng phương châm " Mưa dầm thấm lâu" cho nên việc cung cấp ngôn ngữ Tiếng Việt ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệu quả,
 Ví dụ: Giáo viên luôn vui vẻ, thương yêu trẻ, sửa sang quần áo, chải tóc cho trẻ và không quên kèm theo một số câu hỏi giao lưu như: Con mặc quần áo đẹp quá. Con ăn cơm chưa? Ăn bao nhiêu

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_tang_cuong_tieng_viet_cho_tre_dan_toc.doc