SKKN Thiết kế bài “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (trích kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng theo hướng tích hợp

SKKN Thiết kế bài “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (trích kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng theo hướng tích hợp

Nhà văn M.Gorki đã từng nói : “Văn học là nhân học” Nhận định đó đã làm toát lên ý nghĩa to lớn của văn học nói chung và môn Ngữ văn trong nhà tường nói riêng. Quả thật ,Văn học có vai trò quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn Ngữ văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mục đích cuối cùng của việc dạy học Văn là đào tạo được những thế hệ học sinh không chỉ thành thục về kĩ năng mà còn giàu có về cảm xúc, có tâm hồn trong sáng, giàu lòng nhân ái, biết vươn tới Chân - Thiện – Mĩ.

Vì vậy, dạy học Văn không còn là công việc riêng của nhà giáo và nhà trường mà là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Nó liên quan trực tiếp đến chiến lược con người, đến sứ mệnh của chế độ và cả đời sống văn học của xã hội. Đây không còn là chuyện văn chương đơn thuần mà là chuyện đời, càng không phải chỉ là câu chuyện về những cậu học trò ngây thơ mà chuyện của những con người sắp thay thế cha anh làm chủ thế kỉ XXI; đây cũng không phải là chuyện chữ nghĩa mà là linh hồn của chiến lược con người. Do đó, cần phải có cái nhìn toàn diện về thực trạng dạy học Văn trong nhà trường theo đòi hỏi gay gắt, cấp bách của bản thân đời sống xã hội và đời sống sư phạm để tìm ra một hướng đi đúng đắn cho bài toán phức tạp có nhiều nghịch lí, nhiều lời giải khác nhau nhưng vẫn chưa có một đáp số tối ưu.

 

doc 14 trang thuychi01 26/06/2020 1030
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Thiết kế bài “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (trích kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng theo hướng tích hợp", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Nhà văn M.Gorki đã từng nói : “Văn học là nhân học” Nhận định đó đã làm toát lên ý nghĩa to lớn của văn học nói chung và môn Ngữ văn trong nhà tường nói riêng. Quả thật ,Văn học có vai trò quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người. Là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn Ngữ văn có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mục đích cuối cùng của việc dạy học Văn là đào tạo được những thế hệ học sinh không chỉ thành thục về kĩ năng mà còn giàu có về cảm xúc, có tâm hồn trong sáng, giàu lòng nhân ái, biết vươn tới Chân - Thiện – Mĩ.
Vì vậy, dạy học Văn không còn là công việc riêng của nhà giáo và nhà trường mà là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Nó liên quan trực tiếp đến chiến lược con người, đến sứ mệnh của chế độ và cả đời sống văn học của xã hội. Đây không còn là chuyện văn chương đơn thuần mà là chuyện đời, càng không phải chỉ là câu chuyện về những cậu học trò ngây thơ mà chuyện của những con người sắp thay thế cha anh làm chủ thế kỉ XXI; đây cũng không phải là chuyện chữ nghĩa mà là linh hồn của chiến lược con người. Do đó, cần phải có cái nhìn toàn diện về thực trạng dạy học Văn trong nhà trường theo đòi hỏi gay gắt, cấp bách của bản thân đời sống xã hội và đời sống sư phạm để tìm ra một hướng đi đúng đắn cho bài toán phức tạp có nhiều nghịch lí, nhiều lời giải khác nhau nhưng vẫn chưa có một đáp số tối ưu.
Trong những năm gần đây, với sự phát triển của khoa học và công nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin, lượng tri thức của nhân loại phát minh ngày càng nhiều, kiến thức giữa các lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau. Đồng thời, do yêu cầu của xã hội, do nhu cầu thực tế đang đòi hỏi con người phải giải quyết nhiều tình huống trong cuộc sống. Khi giải quyết các vấn đề đó, kiến thức của một lĩnh vực chuyên môn sẽ không thể thực hiện được mà phải vận dụng kiến thức liên môn một cách sáng tạo. Từ thực tế đó đã đặt ra cho giáo dục và đào tạo một vấn đề là phải thay đổi quan điểm về giáo dục mà dạy học tích hợp đang là một định hướng mang tính đột phá để đổi mới căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp dạy học nói chung và dạy học Văn nói riêng. Đây là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn đời sống.
Từ thực tế giảng dạy và nghiên cứu, tôi mạnh dạn đề xuất vấn đề về dạy học Văn theo hướng tích hợp. Nhưng trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ dừng lại ở một văn bản cụ thể với đề tài: Thiết kế bài “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (trích kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng theo hướng tích hợp. Tôi tin rằng với hướng dạy này, học sinh sẽ tìm thấy hứng thú học văn mà bấy lâu nay các em không còn mấy mặn mà với chính nó .
1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Xây dựng đề tài sáng kiến kinh nghiệm này chúng tôi xác định mục tiêu cụ thể đó là giúp học sinh đến gần hơn với bộ môn Văn một cách tự giác, tích cực, hứng thú, say mê. Góp phần nâng cao hiệu quả công tác dạy - học Văn trong nhà trường THPT
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này được đúc rút kinh nghiệm qua nhiều năm, đặc biệt là trong thời gian qua, tại các lớp thuộc khối 11 của trường THPT Ngọc Lặc trong năm học 2015-2016 và năm học 2016-2016.
1.4. Phương pháp nghiên cứu 
	Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây: phương pháp miêu tả - phân tích, phương pháp khảo sát, thống kê, phương pháp so sánh.
II. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề
2.1.1. Khái niệm
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp. Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng. Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản là tính liên kết và tính toàn vẹn.
	Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng ở các môn học khác nhau hoặc hợp phần của một bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó.
	Trong Chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh nhất và vững chắc”. 
2.1.2. Các hình thức tích hợp
a. Tích hợp ngang
Tích hợp ngang là kiểu tích hợp giữa ba phân môn Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn. Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa ba phân môn một cách đồng bộ và liên kết với nhau trên nhiều mặt để hỗ trợ nhau, bổ sung làm nổi bật cho nhau. Phân môn này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức cho phân môn khác.
Trong một bài học Ngữ văn, để tích hợp ngang được tốt, giáo viên cần phải nghiên cứu cấu trúc tích hợp của các phân môn trong một đơn vị bài học tuần, từ đó xác định mục tiêu chung của bài học, mục tiêu riêng của từng phân môn trong bài học đó.
	b. Tích hợp dọc
Tích hợp dọc là cách vận dụng quan điểm tích hợp trong cùng một phân môn với nhau, tức là giữa văn bản với văn bản, giữa tiếng Việt với tiếng Việt, giữa tập làm văn với tập làm văn trong cùng một khối hay các khối theo chiều dọc từ trên xuống.
Thực chất, tích hợp dọc là hệ thống hóa các kiến thức có liên quan với nhau ở những thời điểm thích hợp để học sinh có thể nắm bắt vấn đề một cách hệ thống. Khi thực hiện tích hợp dọc, các kiến thức được nhắc lại, được liên hệ với nhau giúp học sinh khắc sâu, nhớ lâu hơn nội dung bài học.
	c. Tích hợp liên môn (tích hợp ngoài Văn)
Tích hợp liên môn là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học Ngữ văn với các kiến thức của các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội(Đặc biệt là tích hợp với các môn sử ,dịa và GDCD), các ngành khoa học, nghệ thuật khác, với kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ đời sống cộng đồng, qua đó làm giàu vốn hiểu biết, khắc sâu kiến thức, bồi bổ tâm hồn và phát triển nhân cách cho học sinh. 
Thực tế cho thấy, áp dụng hình thức này, học sinh rất hào hứng với nội dung bài học, vốn kiến thức tổng hợp cho học sinh được bổ sung nhẹ nhàng tự nhiên nhưng hiệu quả. Mặt khác, các kiến thức liên môn thông qua hình thức tích hợp này giúp học sinh có thêm căn cứ, cơ sở để hiểu sâu hơn nội dung, ý nghĩa của văn bản.
2.1.3. Biện pháp khi tích hợp
	Khi thực hiện phương pháp tích hợp, giáo viên cần có năng lực sư phạm, kiến thức chuyên môn vững vàng, sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học thành thạo. Ngoài ra, để giờ học đạt hiệu quả cao, giáo viên cần chú ý một số biện pháp sau:
	- Dùng hệ thống câu hỏi nâng cao có tính chất tổng hợp nhằm: 
	Phát huy tính tích cực động não, suy nghĩ của học sinh
	Phát huy trên nhóm học tập
	- Dùng hệ thống bài tập nâng cao: Nên dùng bài tập trắc nghiệm tốt hơn bài tập tự luận hoặc dùng trò chơi ô chữ.
	- Dùng sơ đồ, biểu bảng: Biện pháp này thích hợp với kiểu tích hợp dọc
	- Dùng tranh minh họa hoặc kênh hình.
2.1.4. Một số vấn đề cần chú ý khi sử dụng phương pháp tích hợp
	Để thiết kế một giờ học theo quan điểm tích hợp, trước mỗi văn bản, tác phẩm được dạy, giáo viên cần chú ý khai thác các vấn đề cơ bản sau:
	- Những hiểu biết về tiếng Việt và ngôn ngữ học cần để phân tích, soi sáng, làm nổi bật nội dung của văn bản, tác phẩm (ngữ âm, từ vựng, biện pháp tu từ).
	- Những hiểu biết về lí luận, lịch sử văn học và các yếu tố khác ngoài văn bản góp phần hiểu đúng, hiểu sâu hơn về văn bản, tác phẩm văn học.
	- Những vấn đề nào đặt ra trong tác phẩm dành cho sự cảm nhận riêng biệt của mỗi học sinh.
	- Cách tổ chức giờ học như thế nào để tích hợp được tất cả các tri thức và kĩ năng đã nêu?
	Tóm lại một giờ học Văn theo hướng tích hợp là một giờ học phải vận dụng một cách tổng hợp, nhuần nhuyễn nhiều tri thức và kĩ năng nhằm làm sáng lên những giá trị nội dung và nghệ thuật tiềm ẩn trong tác phẩm văn học.
2.2. Thực trạng của vấn đề
Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp đang là một xu hướng tất yếu, là biện pháp để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách hệ thống và lôgic. Qua đó, học sinh thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các kiến thức trong chương trình, vận dụng kiến thức lí thuyết và các kĩ năng thực hành, đưa được những kiến thức về Văn, tiếng Việt vào quá trình tạo lập văn bản một cách hiệu quả.
	Theo tinh thần đổi mới, SGK Ngữ văn gồm 3 phân môn: Văn bản, Tiếng Việt, Tập làm văn. Nội dung kiến thức, kĩ năng và mục tiêu cần đạt ở ba phân môn này có quan hệ mật thiết với nhau, đều hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao trình độ sử dụng tiếng mẹ đẻ và năng lực cảm thụ văn học cho học sinh. GS.TS Nguyễn Thanh Hùng viết: “Tích hợp là điểm nổi bật nhất của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn mới đã chi phối cách xây dựng chương trình, chỉ đạo nội dung và phương pháp dạy học Văn” (Tích hợp trong dạy học Ngữ văn – Tạp chí KHGD)
	Song, thực tiễn cho thấy từ thập niên 90 cho đến nay, việc dạy học Văn vẫn mang tính “hàn lâm, lí thuyết”. Đặc điểm cơ bản đó là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học đã được quy định trong chương trình nhưng chưa chú trọng đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn.
	Những năm gần đây, phương pháp dạy học tích hợp đã được giáo viên tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp. Phương pháp dạy học hiện nay về cơ bản chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các phân môn, từng phương diện kiến thức còn bị tách rời, học sinh học tập chưa tích cực, hiệu quả giờ học chưa cao. Nhiều giờ dạy, giáo viên chưa chú trọng phương pháp tích hợp làm cho việc khai thác văn bản thiếu tính hệ thống, thiếu chiều sâu, chất lượng bài dạy chưa đạt hiệu quả cao. Một số giáo viên tích hợp một cách gượng gạo, các đơn vị kiến thức được tích hợp không có mối liên hệ gắn bó giữa các môn học trong cùng tổ hợp cũng như với môn học khác. Đôi khi, giáo viên lựa chọn kiến thức tích hợp chưa trọng tâm, vô hình chung làm lệch nội dung trọng tâm, mục tiêu cần đạt của tiết dạy.
	Tóm lại, quan điểm tích hợp cần được hiểu toàn diện và phải được quán triệt trong toàn bộ môn học: từ đọc văn, tiếng Việt đến Làm văn với các môn học khác; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học, tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh, tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo. Quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” đòi hỏi việc tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh trong mọi mặt, trên lớp và ngoài giờ, tìm mọi cách phát huy năng lực tự học của học sinh, phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho học sinh thì các em mới tự tin và tự học, mới xem tự học là có ý nghĩa và như vậy đào tạo mới có kết quả.
2.3. Vận dụng phương pháp tích hợp trong thiết kế bài “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (Trích kịch Vũ Như Tô) của Nguyễn Huy Tưởng.
2.3.1. Lựa chọn những nội dung của bài học có thể tích hợp
	Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, nội dung bài học và những kiến thức liên quan, tôi xin lựa chọn những nội dung tích hợp sau
2.3.1.1. Phần tiểu dẫn
	a. Tác giả: Giáo viên có thể lựa chọn cách tích hợp dọc trong một phân môn khác khối để tìm hiểu về tác giả Nguyễn Huy Tưởng
	Giáo viên đặt câu hỏi: Em hãy kể tên một số tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã học trong chương trình? 
	Học sinh trả lời: Tác phẩm “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” với hình ảnh Trần Quốc Toản dù nhỏ tuổi nhưng có lòng yêu nước sâu sắc và ý thức trách nhiệm lớn lao với đất nước.
	Giáo viên đặt câu hỏi: Từ tác phẩm đó, em hãy lí giải yếu tố quen và lạ khi đến với tác phẩm Vũ Như Tô?
	Học sinh trả lời: Quen: Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng khai thác các đề tài lịch sử để dựng nên những bức tranh, những hình tượng hoành tráng về lịch sử bi hùng của dân tộc.
Lạ: Ông không những là nhà viết tiểu thuyết có nhiều đóng góp mà còn là nhà viết kịch tài ba; văn phong khi giản dị, trong sáng, khi thâm trầm sâu sắc.
	b. Tác phẩm 
	Phần hoàn cảnh ra đời, giáo viên có thể tích hợp với kiến thức lịch sử dưới triều Lê Tương Dực.
	Giáo viên hỏi: Vở kịch Vũ Như Tô được viết dựa trên sự kiện lịch sử nào?
	Học sinh trả lời: Tác phẩm được viết dựa trên một sự kiện lịch sử xảy ra ở kinh thành Thăng Long dưới thời Lê Tương Dực.
	Giáo viên hỏi: Em biết gì về sự kiện này và triều vua Lê Tương Dực?
	Học sinh trả lời: Lê Tương Dực là ông vua xa sỉ, hoang dâm vô độ. Để thõa mãn thú ăn chơi, ông đã bắt xây dựng cung điện trăm nóc lấy tên là Cửu Trùng Đài. Vì vậy, Tương Dực phải cần đến một người thợ tài ba bậc nhất là Vũ Như Tô và hàng vạn nhân lực gồm cả cống phẩm từ các nước Lào, Chiêm thành – Chăm pa. Vì hoang dâm như thế, cho nên sứ nhà Minh sang trông thấy vua, bảo rằng Tương Dực có tướng lợn nên mọi người ngoài và dân chúng gọi ông là Vua Lợn. Do mải mê ăn chơi, thác loạn, xa hoa nên Tương Dực ngày càng bỏ bê chính sự, từ chối quân vương, ra sức huy động bắt bớ dân đen, hành hạ, thúc dục xây dựng đài điện, tẩm cung. Đó là nguyên nhân khiến dân oán thán, nạn trộm cắp, chết đói, bạo loạn nổi lên nhanh chóng. Ngày 7 tháng 4 âm lịch năm 1516 vua Tương Dực bị Trịnh Duy Sản giết.
Phần tóm tắt, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt theo sơ đồ: 
CTĐ bị tiêu hủy
Vũ Như Tô đau đớn và bị giết
Lê Tương Dực
Đan Thiềm
CỬU TRÙNG ĐÀI
CTĐ là nơi ăn chơi
CTĐ tranh tinh xảo với hóa công
Vũ Như Tô từ chối
Vũ Như Tô nhận lời
Trịnh Duy Sản
Hình 1. Sơ đồ tóm tắt tác phẩm
2.3.1.2. Phần đọc hiểu văn bản
- Giáo viên giới thiệu trích đoạn kịch Vũ Như Tô được chiếu trên VTV1 (Đoạn liên quan đến nội dung văn bản)
- Nhân Vật Đan Thiềm: Giáo viên có thể tích hợp dọc
	Giáo viên hỏi: từ nhân vật Đan Thiềm, em liên hệ đến nhân vật văn học nào trong chương trình Ngữ văn lớp 11 ?
	Học sinh trả lời: Từ nhân vật Đan Thiềm có thể liên hệ đến nhân vật viên quản ngục trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân. Đây cũng là người yêu và say mê cái đẹp, luôn “biệt nhỡn liên tài”. 
2.3.1.3. Phần tổng kết: Giáo viên có thể tích hợp dọc
	Giáo viên hỏi: So sánh điểm giống và khác nhau giữa nhân vật Vũ Như Tô và Đan Thiềm?
	Học sinh trả lời: 
 * Giống nhau: - Đều say mê, trân trọng cái Đẹp
 - Có bản lĩnh, có nhân cách cao đẹp
à Phải chịu kết cục bi thảm
 * Khác nhau: - Vũ Như Tô Là nghệ sĩ say mê sáng tạo cái Đẹp nhưng không thực hiện được giấc mộng lớn của mình. Đan Thiềm là người trân trọng cái tài, cái đẹp nhưng phải lâm vào oan ức đau thương.
 - Vũ Như Tô bướng bỉnh, cực đoan, ảo tưởng, khó thích ứng với những diễn biến phức tạp của cuộc đời. Đan Thiềm tỉnh táo sáng suốt, dễ thích ứng với hoàn cảnh.
	Giáo viên hỏi: Nhận xét quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng có gì giống với quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong “Chữ người tử tù”?
	Học sinh trả lời: Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Tuân đều quan niệm nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống. Cái đẹp phải được xây dựng trên cơ sở cái thiện. Nếu đi ngược với quy luật trên, cái đẹp tất yếu sẽ diệt vong.
	Giáo viên hỏi: Từ nội dung bài học, em rút ra bài học gì về nhận thức và cách ứng xử với cái đẹp trong cuộc sống hiện nay.
	Học sinh trả lời: Trân trọng tài năng, nâng niu những giá trị nghệ thuật chân chính.
	Không vì đề cao cái đẹp mà chà đạp lên những giá trị khác của cuộc sống, phải biết xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa nghệ thuật với thực tế đời sống.
2.3.2. Giáo án thể nghiệm
Tiết PPCT: 61, 62, 63
Đọc văn: VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI
 (Trích kịch: Vũ Như Tô)
 Nguyễn Huy Tưởng
A. Mục tiêu bài học
1. Về kiến thức 
- Xung đột kịch, diễn biến tâm trạng, tính cách, bi kịch của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong hồi V.
- Thái độ ngưỡng mộ, trân trọng của tác giả đối với những nghệ sĩ có tâm huyết và tài năng nhưng phải chịu số phận bi thảm.
2. Về kĩ năng: Đọc –hiểu kịch bản văn học theo đặc trưng thể loại
3. Về thái độ : Cảm thông, trân trọng đối với người nghệ sĩ tài năng nhưng phải chịu số phận đau thương 
Giáo dục kĩ năng sống: nhận thức giá trị, có quan điểm và cách ứng xử đúng đắn với cái đẹp.
B. Chuẩn bị bài học
1. Giáo viên
1.1 Dự kiến phương pháp tổ chức học sinh hoạt động cảm thụ tác phẩm:
 - Phương pháp đọc hiểu, đọc diễn cảm, kết hợp phân tích, giảng bình, so sánh, nêu vấn đề bằng hệ thống câu hỏi gợi mở.
 - Trao đổi thảo luận, kích thích sự sáng tạo của học sinh.
 - Tích hợp phân môn Làm văn, Tiếng Việt, Đọc văn và các môn khác có liên quan.
1.2. Phương tiện:
- Sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo.
- Thiết kế bài học
- Máy chiếu
- Tranh ảnh, sơ đồ
2. Học sinh
- Đọc văn bản
- Học sinh chủ động tìm hiểu bài qua hệ thống câu hỏi sgk.
C. Tiến trình bài học
 	1. Ổn định tổ chức.
 	2. Kiểm tra bài cũ: 
 	3. Bài mới:
Hoạt động của GV và HS
Nội dung
Tiết 1
- Hoạt động 1: Đọc hiểu khái quát
HS đọc tiểu dẫn và trả lời câu hỏi.
- Phần tiểu dẫn trình bày những nội dung chính nào ?
(GV sử dụng máy chiếu hình ảnh tác giả, tác phẩm)
Tích hợp: Em hãy kể tên một số tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng đã học học trong chương trình?
- Từ những tác phẩm đó, em hãy lí giải yếu tố quen và lạ khi đến với tác phẩm Vũ Như Tô?
- Vở kịch được viết dựa trên sự kiện lịch sử gì? 
Tích hợp: Em biết gì về sự kiện này?
- Tóm tắt nội dung tác phẩm ?
Giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng sơ đồ.
- Nêu vị trí đoạn trích ?
- Hoạt động 2: Đọc hiểu chi tiết
GV hướng dẫn và phân vai cho HS đọc đoạn trích.
Tiết 2
- Vở kịch có những mâu thuẫn cơ bản nào?
- Phân tích nguyên nhân và cách giải quyết mâu thuẫn?
HS trình bày nguyên nhân
GV chốt ý.
- Em có nhận xét gì về cách giải quyết hai mâu thuẫn này?
Tích hợp: GV sử dụng máy chiếu giới thiệu trích đoạn kịch
- Vũ Như Tô là con người có tính cách như thế nào? 
- Em có nhận xét gì về khát vọng, hoài bão của Vũ Như Tô?
Thảo luận nhóm
- Nhóm 1: Khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm hoảng hốt báo tin cho Vũ Như Tô, ông đã có suy nghĩ, lời nói, hành động như thế nào?
- Nhóm 2: Đến khi bị bắt, thái độ của Vũ Như Tô như thế nào?
- Nhóm 3: Khi Cửu Trùng Đài bị cháy, tâm trạng của Vũ Như Tô như thế nào?
- Nhóm 4: Qua bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra vấn đề gì về người nghệ sĩ, nghệ thuật và xã hội?
Tiết 3
- Trong lời tựa, Nguyễn Huy Tưởng viết: “Cầm bút chẳng qua là cùng một bệnh với Đan Thiềm”. Dựa vào đoạn trích lí giải “bệnh Đan Thiềm” là gì?
- Tích hợp: Từ nhân vật Đan Thiềm gợi em liên tưởng đến một nhân vật văn học nào đã học? (HS: nhân vật viên quản ngục (biệt nhỡn liên tài) trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân)
- Nêu những đặc sắc về nghệ thuật của vở kịch?
Hoạt động 3: Tổng kết
Khái quát giá trị về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích?
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả. 
- Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) xuất thân trong gia đình nhà nho của đất Bắc Ninh xưa, nay thuộc Đông Anh, Hà Nội.
- Ông là nhà văn có thiên hướng khai thác về đề tài lịch sử và có nhiều đóng góp về thể loại tiểu thuyết và kịch.
- Văn phong Nguyễn Huy Tưởng giản dị, đôn hậu mà thâm trầm sâu sắc.
2. Tác phẩm kịch: Vũ Như Tô
a. Hoàn cảnh ra đời
- Vở kịch đầu tay - bi kịch lịch sử 5 hồi, viết về sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516-1517 dưới triều Lê Tương Dực.
- Tác phẩm được viết xong năm 1941, ghi lời tựa tháng 6 năm 1942.
b. Tóm tắt nội dung tác phẩm: SGK.
 (GV dùng máy chiếu trình chiếu sơ đồ tóm tắt vở kịch – Hình 1, trang 8)
3. Đoạn trích: "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài".
- Đoạn trích thuộc hồi V, hồi cuối cùng của vở kịch.
II. Đọc hiểu văn bản.
1. Những mâu thuẫn, xung đột cơ bản của vở kịch
Vở kịch có hai mâu thuẫn chính: 
a. Mâu thuẫn thứ nhất: Giữa bọn tham quan, bạo chúa với người dân lao động.
- Nguyên nhân: Bọn tham quan, bạo chúa sống xa hoa, không chăm lo đến quyền lợi chính đáng của nhân dân để nhân dân phải sống cuộc sống cơ cực, lầm than (mâu thuẫn càng trở nên căng thẳng khi Lê Tương Dực cho xây Cửu Trùng Đài)
- Giải quyết mâu thuẫn: Quân phiến loạn do Trịnh Duy Sản cầm đầu đã nổi dậy giết chết bạo chúa Lê Tương Dực và đ

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_thiet_ke_bai_vinh_biet_cuu_trung_dai_trich_kich_vu_nhu.doc