Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi

Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi

Chúng ta đã biết, bốn trụ cột của UNESCO thế kỷ 21 là: học để biết, học để làm, học để làm người và đẻ cùng chung sống. Theo UNESCO, kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột giáo dục đó là: Học để biết, gồm các kỹ năng tư duy như là phê phán, sáng tạo, quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả. Học đẻ làm, gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như đảm nhận trách nhiệm, kỹ năng đạt mục tiê. Học để cùng chung sống, gồm kỹ năng giao tiếp, thương lượng tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm. Học để làm người, gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, kiên định.

 Trong hệ thống giáo dục, giáo dục mầm non có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Chất lượng chăm sóc giáo dục ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng ở các bậc học tiếp theo.

 Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiẹm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt nhất.

 Giáo dục “kỹ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, Giáo dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp cho trẻ có thể chuyển kiến thức, thái dộ, cảm nhận thành những khả năng thực thụ, giúp trẻ biết xử láy hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trong cuộc sống.

 Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại cgưa có kỹ năng trong cuộc sống và biết sử dụng linh hoạt kỹ năng này thì không đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra quyết định hợp lý. Giao tiếp có hiệu quả và có mối quan hệ tốt với mọi người. Kỹ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để đpa ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày.

 Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả năng giao tiếp, khả năng tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách ứng xử phù hợp và biết tự giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập rất quan trọng đối với trẻ. Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép kỹ năng sống cho trẻ phù hợp với từng độ tuổi từ lứa tuổi mâm non vô cùng cần thiết và đó cũng là một trong những nhệm vụ trọng tâm của năm học 2016 – 2017.

 

doc 27 trang thanh tú 22 08/10/2022 1889
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
PHẦN A
ĐẶT VẤN ĐỀ
2-3
PHẦN B 
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
4-23
I
Nội dung lý luận
4
II
Thực trạng vấn đề
5
III
Các biện pháp đã tiến hành
8
1
Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng tự phục vụ.
8
2
Rèn kỹ năng sống thông qua các hoạt động.
9
3
Giúp trẻ rèn luyện kỹ năng sống qua các tình huống gặp phải.
15
4
Ứng dụng biện pháp montessori
18
5
Phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh học sinh
21
IV
Kết quả đạt được
22
PHẦN C
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
24-26
I
Những bài học kinh nhiệm
24
II
Những kiến nghị đề xuất
26
PHẦN D
TÀI LIỆU THAM KHẢO
27
PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên nhưng lại mang tính nền tảng rất quan trọng đối với việc giáo dục trẻ sau này. Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng rất non nớt, rất trong sáng và rất dễ tiếp thu những cái tốt cũng như những cái xấu từ bên ngoài. Tuy nhiên, ở lứa tuổi này nếu chúng ta không biết cách uốn nắn và dạy dỗ trẻ không đến nơi thì sẽ gây khó khăn cho các bậc học sau. Chính vì vậy mà người lớn chúng ta cần phải rèn luyện cho trẻ những thói quen tốt ngay từ nhỏ. Như ông bà ta đã từng nói: “Dạy con từ thuở còn thơ”. Thật vậy, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế rất nhiều các bậc phụ huynh có ít thời gian để quan tâm và hướng dẫn con cái chính vì vậy trẻ thường hay ỉ lại và không thể tự lo cho bản thân. Trẻ em ngày nay đã thông minh hơn, hoạt bát, lém lỉnh hơn nhiều so với trẻ em ngày xưa. Tuy nhiên các cháu lại rất thiếu các kĩ năng sống, thiếu khả năng tự lập và thường hay dựa dẫm vào người lớn. Khi gặp khó khăn là chúng thường tìm ngay đến người lớn mà không tự mình tìm cách giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức, tình cảm của trẻ. Vì thế, để đạt được mục tiêu của ngành đưa ra thì giáo viên như tôi phải tìm cách hướng dẫn và chỉ bảo cho trẻ những kĩ năng sống, kĩ năng tự phục vụ. Chăm sóc sức khỏe trẻ thơ là công việc của toàn xã hội. Trẻ em nếu được chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ sẽ ít ốm đau bệnh tật và phát triển tốt. Công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong độ tuổi mầm non là việc làm thiết thực nhằm giúp trẻ có nề nếp thói quen tự phục vụ ngay từ bây giờ. Các hoạt động trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non rất đa dạng và phong phú. Quan hệ giữa cô và các cháu là quan hệ mẹ con gần gũi nhau trong từng biểu hiện, từ lời nói đến hành động. Phát huy đặc trưng các môn học chúng ta phải thể hiện hết chức năng và chăm sóc giáo dục, hai chức năng này song song hòa quyện với nhau. Nếu trẻ biết tự phục vụ, sẽ biết quý trọng bản thân và hình thành kỹ năng sống tích cực trong trẻ, giúp trẻ cân bằng cuộc sống, hòa nhập với môi trường xung quanh. Ở mỗi lứa tuổi trẻ rất cần những tác động khác nhau đến kỹ năng sống của trẻ. Theo những nghiên cứu gần đây của khoa học về sự phát triển của não trẻ chỉ ra rằng “ Trẻ ở lứa tuổi này hoàn toàn có khả năng giao tiếp, khả năng tự kiểm soát thích nghi và thể hiện cảm xúc của mình. Trẻ cũng hoàn toàn có khả năng hòa nhập, tự giải quyết vấn đề một cách tự lập, tự phục vụ cho chính mình. Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ chính là cơ sở giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ cho quá trình học tập suốt đời của trẻ.
Ở trường mầm non tôi đang công tác nói chung và ở lớp B1 tôi đang phụ trách nói riêng, việc tự giải quyết vấn đề một cách tự lập và các thói quen tự phục vụ cho chính mình của trẻ còn rất hạn chế. Nhà trường chưa tổ chức được hoạt động giáo dục kỹ năng sống riêng biệt, chỉ lên kế hoạch tích hợp qua các hoạt động trong ngày ở mức đơn giản, giáo viên chưa biết cách vận dụng các cơ hội trong ngày, chưa biết chọn nội dung phù hợp với trẻ để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nên hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó từ phía gia đình, đa số các bậc phụ huynh còn quá bao bọc con em mình, luôn làm hết mọi việc cho trẻ tạo ra cho trẻ tính ỷ lại, dựa dẫm vào người khác, không chủ động trong mọi công việc. 
Từ thực trạng trên, là giáo viên mầm non được phân công lớp mẫu giáo bé 3-4 tuổi tôi luôn trăn trở và tìm các biện pháp để giáo dục trẻ có kỹ năng và thói quen tự phục vụ đạt hiệu quả tốt nhất. Song do chưa được chú trọng nên trẻ lớp tôi hoàn toàn chưa có những kỹ năng tự phục vụ bản thân. Vậy làm thế nào để có những phương pháp hướng dẫn trẻ những kỹ năng tự phục vụ tốt nhất ? và dưới hình thức nào? Qua tìm tòi nghiên cứu tôi đã mạnh dạn chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp rèn kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé 3 -4 tuổi” để làm sáng kiến kinh nghiệm trong năm học này.
PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỂ
I. NỘI DUNG LÝ LUẬN 
	Chúng ta đã biết, bốn trụ cột của UNESCO thế kỷ 21 là: học để biết, học để làm, học để làm người và đẻ cùng chung sống. Theo UNESCO, kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột giáo dục đó là: Học để biết, gồm các kỹ năng tư duy như là phê phán, sáng tạo, quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả. Học đẻ làm, gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như đảm nhận trách nhiệm, kỹ năng đạt mục tiê. Học để cùng chung sống, gồm kỹ năng giao tiếp, thương lượng tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm. Học để làm người, gồm các kỹ năng cá nhân như ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin, kiên định. 
	Trong hệ thống giáo dục, giáo dục mầm non có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Chất lượng chăm sóc giáo dục ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng ở các bậc học tiếp theo.
	Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiẹm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt nhất.
	Giáo dục “kỹ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, Giáo dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp cho trẻ có thể chuyển kiến thức, thái dộ, cảm nhận thành những khả năng thực thụ, giúp trẻ biết xử láy hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trong cuộc sống.
	Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại cgưa có kỹ năng trong cuộc sống và biết sử dụng linh hoạt kỹ năng này thì không đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra quyết định hợp lý. Giao tiếp có hiệu quả và có mối quan hệ tốt với mọi người. Kỹ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để đpa ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày.
	 Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả năng giao tiếp, khả năng tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách ứng xử phù hợp và biết tự giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập rất quan trọng đối với trẻ. Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép kỹ năng sống cho trẻ phù hợp với từng độ tuổi từ lứa tuổi mâm non vô cùng cần thiết và đó cũng là một trong những nhệm vụ trọng tâm của năm học 2016 – 2017.
	Kỹ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kỹ năng: Kỹ năng giáo tiếp ứng xử, kỹ nằn vệ sinh, kỹ năng thích nghi với môi trường sống, kỹ nằn hợp tcahs chia sẻ
	Dạy kỹ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống của người lớn. Nhằm giúp trẻ có những kỹ năng đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống cho phù hợp.
II.THỰC TRẠNG
1.Đặc điểm tình hình của nhà trường
 Trường tôi được thành lập từ ngày 1 tháng 1 năm 2014. Trường hiện có 12 nhóm lớp với tổng số học sinh là 390. 
+ 3 lớp mẫu giáo lớn
+ 3 lớp mẫu giáo nhỡ
+ 3 lớp mẫu giáo bé và 
+ 3 lớp nhà trẻ
- Nhà trường có tổng số 41 cán bộ, giáo viên, nhân viên trong đó:
+ Ban giám hiệu: 3 người
+ Giáo viên trực tiếp giảng dạy: 24 người
+ Cô nuôi: 8 người
+ Kế toán: 1 người
+ văn thư: 1 người
+ Y tế: 1 người
+ Bảo vệ: 3 người
Trình độ đạt chuẩn là 100% trên chuẩn là 27%
- Trong quá trình thực hiện biện giúp trẻ có thói quen tự phục vụ tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau. 
 2. Thuận lợi và khó khăn: 
a. Thuận lợi
 Năm học 2016 – 2017 Tôi được nhà trường phân công chăm sóc và nuôi dạy trẻ mẫu giáo bé 3 – 4 tuổi, các cháu trong lớp đều ở cùng một độ tuổi sự hiểu biết của trẻ tương đối đồng đều nên việc chăm sóc và giáo dục trẻ có nhiều thuận lợi. Trường tôi đang công tác là một trường mới được thành lập nên được nhiều các cấp, ban ngành và hầu hết các bậc phụ huynh đều rất quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất để chăm sóc và giáo dục trẻ.
 Lớp tôi là lớp mẫu giáo bé nên được ban giám hiệu nhà trường quan tâm tạo rất nhiều điều kiện để cho trẻ phát triển một cách tốt nhất, bản thân tôi là giáo viên phụ trách lớp mẫu giáo bé 7 năm từ khi ra trường.
 Ngoài ra ban giám hiệu nhà trường còn tạo điêu kiện để giáo viên trong lớp được tham gia nhiều lớp học nâng cao, nhiều lớp tập huấn về các chuyên đề. Bố trí giáo viên có năng lực, có chuyên môn để truyền thụ cho trẻ kiến thức kỹ năng và qua đó giúp trẻ phát triển toàn diện. 
– Bản thân thường xuyên học hỏi đồng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn và các hoạt động trong ngày và tự tìm hiểu qua các loại sách báo đồng thời có kế hoạch sắp xếp hoạt động theo từng chủ đề với sự hứng thú của trẻ.
– Phụ huynh ủng hộ các nguyên vật liệu cho các hoạt động và học sinh thì tích cực tham gia các hoạt động.
- Lớp học đầy đủ đồ dùng, đồ chơi cho các hoạt động 
- Phần lớn số trẻ trong lớp được chuyển lên từ nhà trẻ hoặc đã được đi học qua các lớp tư nên khi đến trường trẻ đã có một số kỹ năng cơ bản, trẻ dễ hòa nhập với nhau.
b. Khó khăn:
 Tuy nhiên là một trường mới thành lập cũng không ít khó khăn mà cả cô, trò, ban giám hiệu cùng các bậc phụ huynh phải vượt qua.
- Do trường mới thành lập nên cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn chưa đủ trang thiết bị phòng học thì chật hẹp đôi khi còn gặp khá nhiều khó khăn trong các hoạt động. 
- Có nhiều giáo viên mới, chưa có nhiều kinh nghiệm trong chăm sóc giáo dục trẻ, hình thức tổ chức còn chưa thu hút trẻ. 
- Đa số trẻ mới đi học và tuổi còn nhỏ nên chưa có thói quen nề nếp, hay quấy khóc chưa biết làm theo yêu cầu của cô. Bên cạnh đó được gia đình chiều chuộng nên nghich ngợm, quấy khóc, một số lại quá nhút nhát, ít giao tiếp.
– Khả năng chú ý có chủ định của trẻ còn kém. Trẻ dễ dàng cuốn hút vào các hoạt động nhưng cũng nhanh chóng tự rút ra khỏi trò chơi nếu nó không còn hứng thú.
- Nhiều cháu khả năng tự phục vụ còn rất yếu, còn rụt rè nhút nhát, nhiều trẻ còn chưa hiểu được yêu cầu của cô thích tự làm theo ý của mình nên gây ra nhiều khó khăn trong việc rèn nề nếp trẻ.
- Nhiều phụ huynh chưa hiểu và quan tâm đến việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho con em mình.
- Trẻ bị ảnh hưởng từ cuộc sống hàng ngày khi cha mẹ cho tiếp xúc nhiều với công nghệ, internet, máy tính, di động.
- Trẻ quen được cha mẹ bao bọc làm thay mọi việc nên ỷ lại dựa dẫm không có tính tự lập. 
3. Khảo sát thực tế
- Qua thực tế hoạt động của cô và trẻ lớp mình khi tham gia hoạt động
 vào đầu năm học tôi đã khảo sát và được kết quả như sau:
* Bảng 1 kết quả khảo sát khả năng tự phục vụ của trẻ trong lớp đầu năm
STT
Nội dung khảo sát
Tổng số trẻ
Đạt
Chưa đạt
Số trẻ
Tỉ lệ %
Số trẻ
Tỉ lệ %
1
Tự xúc cơm ăn
27
7
26
20
74
2
Tự cầm cốc uống nước
27
17
63
10
37
3
Tự cởi, mặc quần áo
27
10
37
17
63
4
Tự lấy, cất đồ dùng cá nhân
27
12
44
15
56
5
Tự xúc miệng sau khi ăn
27
9
33
18
67
6
Tự cất bát, ghế sau khi ăn
27
8
30
19
70
7
Không để bố mẹ bế khi đến lớp
27
15
56
12
44
* Bảng 2 khảo sát của cô
STT
Đầu năm
Đạt %
1
Kiến thức sư phạm
95%
2
Kỹ năng sư phạm
75%
3
Khả năng hướng dẫn và thu hút trẻ tham gia hoạt động
65%
- Từ bảng khảo sát trên tôi nhận thấy :
+ Trẻ chưa thật sự chưa có kỹ năng và nề nếp tự phục vụ nhiều trẻ còn rất yếu, còn rụt rè và nhút nhát khi tham gia hoạt động. Đa số trẻ còn nhốn nháo, chưa tập trung chú ý. Nhiều trẻ còn rất yếu trong những công việc tự phục vụ, khi đi vệ sinh trẻ chưa biết tự cởi quần nên tè dầm. Khi ăn cơm trẻ luôn bị động ngồi chờ các cô xúc cho và không chịu tự tay xúc ăn. Sau khi ăn xong lại chưa có thói quen tự cất đồ dùng, bát, ghế của mình. Nhiều trẻ trong lơp không tự đi mà bắt bố mẹ bế, cõng khi vào lớp, không tự cất dép, balô của mình. Từ đó làm cho trẻ có tính ỷ lại cao.
+ Cô giáo chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc tổ chức hoạt động nên kỹ năng sư phạm chưa cao. 
- Từ các thực trạng trên, tôi đã suy nghĩ và nghiên cứu một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo bé 3-4 tuổi rèn kỹ năng sống.
III. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Biện pháp 1: Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng tự phục vụ. 
- Người giáo viên trước hết phải là nhà giáo dục, có tác động tích cực đến trẻ thông qua bản thân và nhân cách của mình. Bản thân tôi là một giáo viên nên cần phải có vai trò như một năng lực tổng hợp, và cần có năng lực nghề nghiệp mới. Chỉ có tự học mới có thể có điều kiện giúp chúng ta học tập được thường xuyên và suốt đời, là cách tự bồi dưỡng tự làm giàu kiến thức chư mình
- Là một giáo viên được phân công giảng dạy lớp 3 – 4 tuổi, nhằm thược hiện tốt nhiệm vụ được giao tôi đã tự học tự bồi dưỡng bản thân để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của mình. Đặc biệt đi sâu nghiên cứu những kỹ năng sống cơ bản để dạy cho trẻ 3 – 4 tuổi trong trường mầm non. Nghiên cứu đặc điểm sinh lý lứa tuổi mẫu giáo bé bằng nhiều hình thức như:
+ Tự đọc qua sách báo, tạp chí, mạng xã hội, bạn bè đồng nghiệp.
+ Từ đầu năm học tôi đã lập kế hoạch hoạt động cho từng tháng, từng tuần theo từng chủ đề. 
+ Hàng tháng tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn do nhà trường, tổ chuyên môn tổ chức. 
+ Tham gia các buổi tập huấn chuyên đề, các đợt hôi giảng, hội thi giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp huyện.
- Qua đó tôi nhận thức được sâu sắc và xác định được kỹ năng sống cơ bản, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi khác nhau giúp trẻ phát triển những kỹ năng sống phù hợp như: sự hợp tác, tự kiểm soát, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. 
- Và qua các hình thức tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng tự phục vụ đã giúp tôi nhận thức đúng đắn về yêu cầu, nội dung, hình thức cũng như phương pháp dạy trẻ kỹ năng sống để áp dụng vào các hoạt động hàng ngày đạt kết quả cao nhất. 
2. Biện pháp 2: Rèn kỹ năng sống thông qua các hoạt động
- Trẻ mầm non có nhiều bài học có thể giáo dục kỹ năng sống đó là kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sống tự tin, hợp tác, xử láy tình huống, tự phục vụMuốn dạy trẻ trước hết chúng ta phải yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ. Tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ được học tập và vui chơi. 
- Để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có hiệu quả tôi đã vận dụng vào các môn học và các hoạt động như: giờ học toán, khám phá, thể dục, văn học, giờ học nghệ thuật, hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, hoạt động tập thể, hoạt động lao động, giờ ăn ngủ, các trò chơi,để cho trẻ được trải nghiệm và hứng thú tham gia các hoạt động.
a. Thông qua giờ học
- Giờ văn học: Trẻ mầm non rất thích nghe các câu chuyện cổ tích, bài thơ qua đó để lại cho trẻ những ấn tượng sâu sắc khó phai mờ. Tôi thường hay kể cho trẻ nghe các câu chuyện, đọc các bài thơ từ đó dạy trẻ yêu thương bạn bè, mọi người xung quanh và để gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát triển khả năng thấu hiểu ở trẻ.
Ví dụ: Khi kể chuyện “Củ cải trắng” tôi dạy trẻ biết yêu thương, giúp đỡ quan tâm tới bạn bè.
- Giờ thể dục: Tôi cho trẻ tập các bài tập nhằm rèn luyện cơ thể, bảo vệ sức khỏe, trẻ nhận thức được để có một cơ thể khỏe mạnh, phát triển cân đối hài hòa thì trẻ cần siêng năng tập luyện. Trong khi tham gia hoạt động trẻ không được chen lấn xô đảy bạn, biết giúp đỡ bạn nhỏ hơn.
Ví dụ: trong giờ học khi đi vòng tròn khởi động trẻ đi lần lượt không chen lấn nhau không chạy đùa xô đẩy bạn.
- Giờ học nghệ thuật: Trong giờ tạo hình tôi luôn động viên khuyến khích trẻ tự đưa ra ý tưởng của mình tạo cơ hội cho trẻ được nói, bày tỏ mong muốn của mình, từ đó rèn trẻ kỹ năng mạnh dạn, hợp tác khi làm bài. Với tiết học xé dán tôi hướng dẫn trẻ kỹ năng xé để có được sản phẩm theo yêu cầu hoặc ý thích của trẻ. Sau khi học xong tôi rèn trẻ kỹ năng nhặt giáy rác vứt đúng nơi quy định, và rửa tay sach sẽ. Cũng như vậy trong giờ học âm nhạc tôi cho trẻ hát các bài hát như “Cháu yêu bà”, “ cả nhà thương nháu”, “ Cháu yêu cô chú công nhân” để trẻ thể hiện được tình yêu thương với gia đình, trẻ yêu mến những người xung quanh.
- Giờ học khám phá: Với tiết khám phá về thế giới thực vật, trẻ hiểu được tầm quan trọng, ích lợi của cây cối, hoavới đời sống hàng ngày của con người. Giáo dục trẻ biết chăm sóc bảo vệ cây xanh, và ăn uống những loại thực phẩm có lợi cho cơ thể và sức khỏe. Trẻ hiểu được ăn uống đủ chất giúp trẻ mạnh khỏe, phòng tránh một số bệnh qua đường tiêu hóa.
a. Thông qua giờ ăn, ngủ
- Hành vi văn minh trong ăn uống là 1 nét văn hóa trong thời đại hiện nay, ít người biết rằng văn hóa trong ăn uống là một trong những tieu chí đánh giá nhân cách con người. Chính vì vậy việc rèn trẻ thói quen hành vi trong ăn ngủ là rất cần thiết. Thói quen, hành vi ăn uống trong khi tổ chức cho trẻ ăn mang lại hiệu quả cao nhất. Thông qua giờ ăn tôi đã dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập.
- Trước khi ăn: tôi cho trẻ làm một số công việc như tự vệ sinh cá nhân (rửa tay, lau mặt).
- Trong khi ăn: Biết cách sử dụng đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, không nói chuyện, ngồi ngay ngắn, ăn hết xuất.
- Sau khi ăn: Trẻ biết tự mình cất bát, thìa, ghế, vệ sinh lau miệng, súc miệng nước muối, thu dọn bài ăn. Ngoài ra tôi còn khuyến khích trẻ giúp cô chuẩn bị giờ ngủ như trải chiếu, lấy gối
 - Và tôi cũng lập sẵn một bảng phân công làm trực nhật giúp cô:
nhóm
Nội dung công việc
1
Giúp cô trải bạt
2
Giúp cô chia khăn lau– chia khay thìa
3
Giúp cô kê bàn
4
Giúp cô lau dọn bàn
5
Giúp cô trải chiếu
6
Giúp cô lấy chăn, gối
Bảng phân công của trẻ trong giờ ăn – ngủ
c. Thông qua tổ chức trò chơi
- Trẻ mầm non học mà chơi – chơi mà học. Tổ chức cho trẻ chơi chơi các trò chơi vận động để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là 1 biện pháp hữu ích mạng lại hiệu quả cao. Vì thế mà tôi đã tìm tòi và tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi.
- Trò chơi rèn tính hợp tác: Chuyển bóng
+ Trẻ thi đua 2 đội, đứng thành 2 hàng bạn đầu hàng cầm bóng. Khi có hiệu lệnh chuyển thì trẻ lần lượt chuyển cho nhau đến khi đến bạn cuối cùng thì mang bóng lên để vào rổ. Thời gian là 1 bản nhạc khi kết thúc đội nào chuyển được nhiều sẽ chiến thắng.
+ Luật chơi: Trẻ không đươc làm rơi bóng và bỏ cách người.
- Trò chơi mang tính tự tin: Hái quả
+ trẻ đứng làm 2 hàng, lần lượt lên hái 1 quả trên cây và phải đi trên cầu
+ Luật chơi: trẻ không được làm rơi quả
d. Thông qua hoạt động lao động
- Hoạt động lao động trong trường mầm non có rất nhiều hình thức như: trực nhật, lao động tập thể, lao động trong thiên nhiênthông qua tổ chức cho trẻ lao động tôi cũng đã lồng ghép vào rèn kỹ năng sống cho trẻ.
- lao động trực nhật là hình thức lao động đòi hỏi trẻ hoàn thành các nhiệm vụ nhằm phục vụ tập thể. Khi trẻ làm trực nhật tôi có thể rèn cho trẻ tính độc lập, tinh thần trách nhiệm, vì trẻ lần lượt được tham gia các hình thức trực nhật được phân công trong mỗi ngày và giúp trẻ hiểu được cộng việc của mình là cần thiết cho mọi người, giúp trẻ nâng cao tinh thần trách nhiệm trước tập thể. Trong khi lao động trẻ trao đổi, bàn bạc và phân công nhiệm vụ cho nhau, giúp nhau hoàn thành qua đó rèn trẻ kỹ năng giao tiếp, ứng xử. Để trẻ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao tôi hướng dẫn trẻ thực hiện thứ tự công việc, kiểm tra lại giúp trẻ khi cần thiết. Bên cạnh đó tôi luôn động viên, khuyến khích sự cố gắng của trẻ. Hàng ngày mỗi trẻ được phân công một công việc. Ngoài ra tôi còn tổ chức cho trẻ cùng lau dọn tủ đồ chơi, sắp xếp lại đồ dùng trong lớp vào thứ chiều 6 hàng tuần.
 - lao động trong thiên nhiên là trò chơi trẻ tham gia vào các công việc như: trồng cây, tưới cây, nhổ cỏ, nhặt lá trong sân trường
qua đó giúp trẻ phát triển trí tuệ, óc sáng tạo, óc quan sát, giáo dục trẻ ý thức bảo vệ thiên nhiên. Trẻ được tha

Tài liệu đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_song_cho.doc