Sáng kiến kinh nghiệm Dạy học tích hợp liên môn tác phẩm “Tây Tiến” của Quang Dũng

Sáng kiến kinh nghiệm Dạy học tích hợp liên môn tác phẩm “Tây Tiến” của Quang Dũng

Cơ sở lí luận.

7.1.1. Khái niệm tích hợp

Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp. Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống.

Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó.

 Trên thế giới, tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại, nó góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính những hoạt động tích hợp, trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp kiến thức, kỹ năng; có khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống cụ thể.

 Những năm gần đây, nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được nghiên cứu, áp dụng ở THPT như: dạy học tích cực, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp tạo ô chữ, phương pháp sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Tất cả đêu nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh và phát triển tư duy sáng tạo chủ động cho học sinh. Tích hợp liên môn trong dạy học các môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng thực sự là phương pháp hữu hiệu, tạo ra môi trường giáo dục mang tính phát huy tối đa năng lực tri thức của học sinh đem đến hứng thú mới cho việc dạy học ở trường phổ thông.

7.1.2. Quan điểm vận dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT

Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật. mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này. Nói khác đi, đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn.

 

doc 34 trang cucnguyen11 14/10/2021 491
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Dạy học tích hợp liên môn tác phẩm “Tây Tiến” của Quang Dũng", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT TRIỆU THÁI
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ 
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến:
DẠY HỌC TÍCH HỢP LIÊN MÔN
 TÁC PHẨM “TÂY TIẾN” CỦA QUANG DŨNG 
Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THỊ NHUNG
Mã sáng kiến: 15.51.02
Lập Thạch, Năm 2019
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Lời giới thiệu. 
 Ngữ Văn là một môn học có ý nghĩa xã hội rất quan trọng. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, môn Văn có vai trò và sứ mệnh riêng nhưng đều nhằm mục đích phục vụ cho sự phát triển của xã hội. Vận mệnh của Tiếng Việt và nền quốc văn gắn liền với vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, môn Ngữ Văn có vai trò, vị trí rất quan trọng trong nhà trường nói chung và nhà trường trung học phổ thông nói riêng. Vị trí của môn Văn trong nhà trường là giúp cho thế hệ trẻ thấy rằng, môn Văn là một nghệ thuật của cuộc sống, là quà tặng tinh thần, là kim chỉ nam của những tâm hồn đang lớn. Vì thế đây là một trong những môn học chính, quan trọng trong nhà trường.
 	Dạy học theo chủ đề tích hợp là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục, giúp người học nhận thức được sự phát triển xã hội một cách liên tục, thống nhất, thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, khắc phục được tính rời rạc trong kiến thức.
	Dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn là hình thức liên kết những kiến thức giao thoa như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Tin học, Rèn luyện kĩ năng sống, giáo dục bảo vệ di sản văn hóa địa phương,để học sinh tiếp thu kiến thức, biết vận dụng vào cuộc sống và ngược lại từ cuộc sống để giải quyết các vấn đề liên quan đến môn học.
          Nếu quan niệm nghệ thuật dạy học là nghệ thuật thức tỉnh trong tâm hồn các em thanh thiếu niên tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực, mà tính ham hiểu biết đúng đắn và sinh động chỉ có được khi đầu óc sảng khoái. 
 Để học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập thì tất yếu phải đổi mới phương pháp giảng dạy mà dạy học theo hướng tích hợp liên môn là một phương pháp tiêu biểu.
          	Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiện chương trình Ngữ văn lớp 12, tôi thấy tính ưu việt của phương pháp dạy học tích hợp các kiến thức liên môn này hơn hẳn những phương pháp trước đây được vận dụng. Tính ưu việt của phương pháp thể hiện rõ qua thái độ, niềm say mê, kết quả tiếp nhận của học sinh trong từng bài học. Tiếp nối vấn đề đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Dạy học tích hợp liên môn tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng” .
 Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi mong muốn sẽ góp phần giúp cho bài dạy Ngữ Văn được tiến hành hiệu quả tốt hơn, học sinh tích cực chủ động trong việc tiếp thu lĩnh hội kiến thức của bài học. Đây cũng là lí do mà tôi chọn đề tài này, hy vọng sẽ góp phần cùng đồng nghiệp từng bước nâng dần chất lượng giờ học bài Tây Tiến của Quang Dũng ở trường THPT Triệu Thái nói riêng và các trường THPT nói chung.
2. Tên sáng kiến: 
 “Dạy học tích hợp liên môn tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng” .
3. Tác giả sáng kiến.
- Họ và tên: Nguyễn Thị Nhung
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Trung Học Phổ Thông Triệu Thái- Lập Thạch- Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0988.249.617
- Email: nguyenthinhung.gvtrieuthai@vinhphuc.edu.vn
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến. 
- Họ và tên: Nguyễn Thị Nhung
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường Trung Học Phổ Thông Triệu Thái
- Số điện thoại: 0988.249.617
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến.
Sáng kiến được áp dụng trong giảng dạy bộ môn Ngữ Văn nói chung và tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng nói riêng ở Trường trung học phổ thông Triệu Thái-Huyện Lập Thạch-Tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử.
- Sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên vào học kì I năm học 2015 - 2016
7. Mô tả bản chất của sáng kiến.
- Về nội dung sáng kiến:
7.1. Cơ sở lí luận.
7.1.1. Khái niệm tích hợp
Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp. Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ không phải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy. Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống.
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó.
 Trên thế giới, tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại, nó góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính những hoạt động tích hợp, trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp kiến thức, kỹ năng; có khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống cụ thể.
 Những năm gần đây, nhiều phương pháp dạy học mới đã và đang được nghiên cứu, áp dụng ở THPT như: dạy học tích cực, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp tạo ô chữ, phương pháp sử dụng công nghệ thông tin trong dạy họcTất cả đêu nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh và phát triển tư duy sáng tạo chủ động cho học sinh. Tích hợp liên môn trong dạy học các môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng thực sự là phương pháp hữu hiệu, tạo ra môi trường giáo dục mang tính phát huy tối đa năng lực tri thức của học sinh đem đến hứng thú mới cho việc dạy học ở trường phổ thông.
7.1.2. Quan điểm vận dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT 
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật... mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này. Nói khác đi, đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn”, biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn.
7.1.3. Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học tác phẩm “Tây Tiến” của Quang Dũng
 Việc dạy học tích hợp liên môn trong dạy học tác phẩm “Tây Tiến” của Quang Dũng không chỉ chú trọng nội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm, thao tác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt HS từng bước thực hiện để chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy nhất. Giờ học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩ năng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác động các hoạt động, kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc nội bộ phân môn.
Tích hợp kiến thức Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân, Tiếng Việt, Làm văn, kĩ năng sống trong dạy học tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng thực sự đã khơi dậy cho học sinh niềm đam mê, ham hiểu biết đối với tác phẩm. 
7.2. Cơ sở thực tiễn 
Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy phương pháp giảng dạy truyền thống giữa các phân môn chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau tách rời từng phương diện kiến thức, học sinh hoạt động chưa tích cực, hiệu quả đem lại cũng chưa cao. Mặc dù phương pháp dạy học tích hợp đã được triển khai vào trường học từ nhiều năm nay. Sở giáo dục và đào tạo Vĩnh Phúc cũng đã có nhiều cuộc thi soạn giảng tích hợp liên môn dành cho giáo viên và Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết một tình huống thực tiễn dành cho học sinh. Nhưng có một thực tế là trong các nhà trường phương pháp tích hợp chưa thực sự phổ biến dẫn đến hiệu quả thấp. Do cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.
7.2.1. Về phía giáo viên:
 - Có giáo viên chỉ tập trung chuyển tải một cách rập khuôn những thông tin có trong bài học mà chưa chó träng khai th¸c những vấn đề liên quan.
- Giáo viên còn lúng túng khi đưa ra hệ thống câu hỏi khai thác cũng như phương pháp triển khai những văn bản văn học nói chung và tác phẩm thơ nói riêng do đó chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh.
- Mặt khác, kiến thức lý luận văn học của một bộ phận giáo viên chưa thật sự vững .	
 - Một số GV ngại soạn giáo án tích hợp liên môn do mất nhiều thời gian tìm hiểu tài liệu liên quan.
7.2.2. Về phía học sinh: 
- Một thực tế đang tồn tại ở trường THPT Triệu Thái là học sinh bị hổng, kiến thức từ các cấp, lớp học dưới, các em học trước quên sau. Cho nên học sinh rất khó tiếp thu được kiến thức của văn bản khi chưa hiểu hết ý nghĩa của các sự kiện lịch sử, vị trí địa lí, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân đối với tổ quốc,...được sử dụng trong bài học. 
- Phần lớn học sinh ít có tư liệu để đọc, tham khảo và cũng chưa có thói quen đọc sách tham khảo để bổ sung kiến thức môn học.
- Học sinh thường ngại học, không nhớ, không thích học kiến thức lý thuyết dài dòng, lan man, bảng biểu, tranh ảnh, vi deo của tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng còn hạn chế; những câu hỏi phát vấn trong giờ học thường rất ít học sinh phát biểu chỉ một vài học sinh có học lực khá xung phong phát biểu xây dựng bài; 
- Tâm lý học Ngữ Văn là một môn học khó, học sinh học lệch để thi vào các trường cao đẳng, đại học ban khoa học tự nhiên là một trong những trở ngại lớn.
- Thực trạng phổ biến trong các tiết học tác phẩm thơ nói chung và tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng nói riêng là học sinh thụ động ngồi nghe giảng. 
 Chính vì lẽ đó, dạy học theo quan điểm tích hợp là một xu hướng tất yếu của dạy học hiện đại, là biện pháp để tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Học sinh được rèn luyện thói quen tư duy, nhận thức vấn đề một cách có hệ thống và lôgic. Qua đó học sinh cũng thấy được mối quan hệ biện chứng giữa các kiến thức được học trong chương trình, vận dụng các kiến thức lí thuyết và các kĩ năng thực hành, đưa được những kiến thức về văn, Tiếng Việt vào quá trình tạo lập văn bản một cách hiệu quả. 
 Có nhiều hình thức tích hợp: Kiểu tích hợp giữa các phân môn trong cùng một bộ môn (chẳng hạn ở môn Ngữ văn có Văn - Tiếng Việt -Tập làm văn). Điều này thể hiện trong việc bố trí các bài học giữa các phân môn một cách đồng bộ và sự liên kết với nhau trên nhiều mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ sung làm nổi bật cho nhau. Phân môn này sẽ củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức cho phân môn khác và đều hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao trình độ sử dụng tiếng mẹ đẻ và năng lực cảm thụ văn học cho học sinh.
Hình thức tích hợp được các GV vận dụng và hiện đang được đẩy mạnh là tích hợp liên môn. Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong bài học với các kiến thức của các bộ môn khác, các ngành khoa học, nghệ thuật khác, cũng như các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sống cộng đồng, qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh.
Tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng trực tiếp bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ chính trị của người viết đối với thời đại. Qua tác phẩm học sinh còn nắm bắt được cảm xúc, khát vọng, tâm huyết của người viết. Để từ đó khi liên hệ đến hiện thực đời sống, học sinh có những suy nghĩ, hành động đúng. 
7.3. Giải pháp thực hiện
7.3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đây là một đề tài gắn liền với thực tiễn giảng dạy nên tôi tập trung nghiên cứu, tìm hiểu và thực hiện trong nhà trường phổ thông một cách hiệu quả.
	Đối tượng nghiên cứu:
- Bài Tây Tiến của Quang Dũng (Ngữ văn 12, tập 1)
- Học sinh lớp 12 trường THPT Triệu Thái.
Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: 
- Phạm vi: Trường THPT Triệu Thái
- Kế hoạch nghiên cứu: 4 năm học (Năm học 2015-2016; năm học 2016-2017; năm học 2017-2018; Năm học 2018-2019 ) 
7.3.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích - tổng hợp
	Phương pháp so sánh
 Phương pháp đọc - hiểu văn bản thơ theo đặc trưng thể loại. 
 Phương pháp khảo sát thống kê - phân loại
 Phương pháp hệ thống
 Thảo luận nhóm, điều tra thực tiễn, tự liên hệ.
 Tổ chức cho HS nghe nhạc, xem băng hình về chủ đề “người lính trong kháng chiến chống Pháp”. 
7.3.3. Điều kiện để thực hiện 
- Chuẩn bị của GV: 
+ Để xây dựng bài giảng Tây Tiến của Quang Dũng theo hướng tích hợp kiến thức liên môn, giáo viên cần: Xác định đúng nội dung kiến thức nào trong bài cần tích hợp, tích hợp với kiến thức thuộc môn học hay lĩnh vực nào, tích hợp ở mức độ nào; chọn hình thức tích hợp: giáo viên diễn giảng bằng lời, cung cấp trên giáo cụ trực quan hay đưa ra nhiệm vụ học sinh thu thập, tìm hiểu ở nhà trước hoặc sau bài học.
+ Xây dựng thiết kế bài giảng: phải bám sát kiến thức bài học, mục tiêu thời lượng dành cho mỗi đơn vị kiến thức trong bài học để đưa ra phương pháp và cách tổ chức dạy học phù hợp; cần đa dạng hóa các hình thức luyện tập sáng tạo để phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng của HS; dự kiến được các tình huống phát sinh trước hoạt động tích hợp liên môn;
+ Chuẩn bị phương tiện dạy học sách giáo khoa Ngữ Văn 12 tập 1, sách chuẩn kiến thức kỹ năng, bài soạn, phiếu học tập, hệ thống câu hỏi kiểm tra, đánh giá và các tiêu chí kiểm tra, đánh giá xếp loại HS;
+ Chuẩn bị điều kiện học tập của học sinh. 
- Chuẩn bị của học sinh: 
+ Ôn tập bài cũ, chuẩn bị bài mới.
+ Chuẩn bị thái độ, tâm thế để bước vào bài mới. 
7.3.4. Vận dụng các kiến thức liên môn
7.3.4.1. GV sử dụng tài liệu lịch sử 
GV cần tìm hiểu những kiến thức lịch sử trong SGK lịch sử hay tài liệu tham khảo môn Lịch sử để có những kiến thức chính xác, chặt chẽ. Sử dụng phương pháp này, học sinh sẽ tiếp cận kiến thức Văn học qua tư liệu lịch sử, đặt tác giả, tác phẩm vào môi trường ra đời của nó để học sinh đánh giá được những đóng góp cũng như hạn chế của tác giả về nội dung tư tưởng hay nghệ thuật thể hiện.
Trong các bài học ở sách giáo khoa, các nhà biên soạn đã có phần tiểu dẫn trình bày về tác giả hoàn cảnh ra đời tác phẩm để giáo viên khai thác tuy nhiên vẫn cần có sự tham khảo thêm sử liệu để làm rõ yếu tố thời đại.
Chẳng hạn, tìm hiểu tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng thầy cô cần liên hệ tích hợp kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954. Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp, đặc biệt sau lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.
 ( Lịch sử lớp 12 - Bài 18 + 19 + 20: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1946 - 1954)
7.3.4.2. Gv sử dụng tài liệu địa lý 
Với những hiểu biết về địa lý tự nhiên, khí hậu địa hình của một khu vực đóng vai trò vô cùng quan trọng để học sinh hiểu thêm không gian nghệ thuật trong tác phẩm. 
Ví dụ 1: tìm hiểu về câu hỏi: Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng?
 - GV trình chiếu 1 số hình ảnh địa danh mà binh đoàn Tây Tiến đã đi qua, qua đó gợi nhắc cho các em thấy được nhiệm vụ, đời sống vật chất cũng như tinh thần của các chiến sĩ Tây Tiến
- GV tích hợp kiến thức địa lí giới thiệu về địa danh khu tưởng niệm các chiến binh Tây Tiến ở Mộc Châu- Sơn La.(Thời gian: 1phút 29giây)
Ví dụ 2: Để tìm hiểu đoạn 1 của bài thơ thầy cô cần giúp các em học sinh nắm được đặc điểm địa hình Tây Bắc và vị trí địa lý của Tây Bắc. Thuỷ trình của Sông Mã trên dải đất Tây Bắc.
 (Địa lí lớp 12- Bài 6 tiết 1 “Đất nước nhiều đồi núi”; Bài 9,10: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa) 
7.3.4.3. Sử dụng tư liệu về các tác phẩm nghệ thuật
Hội họa, sân khấu, điêu khắc, ca nhạc, phim ảnhlà kết quả sáng tạo của xã hội loài người. Một hình ảnh nghệ thuật giúp người học sử dụng trí tưởng tượng của mình tập trung vào những điểm quan trọng.
Giáo viên bổ sung hình ảnh tư liệu thuộc các lĩnh vực nói trên vào bài giảng để học sinh có vốn văn hóa rộng khi tiếp nhận.
Bản thân văn học có mối quan hệ mật thiết với các loại hình nghệ thuật khác.
Học sinh tiếp nhận kiến thức văn học qua tranh ảnh đồ dùng trực quan kết hợp với bài viết sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo sẽ nhớ lâu và hứng thú hơn.
Để việc khai thác nguồn tư liệu này có hiệu quả, phát huy tính tích cực của học sinh, giáo viên cần nghiên cứu kỹ mục tiêu và nội dung của từng tư liệu trong bài học tư liệu thuyết minh hình ảnh
Ngày nay, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, giáo viên trình chiếu kênh hình sẽ có ưu thế hơn vì học sinh được trực quan với hình ảnh rõ, kích thước lớn, màu sắc sinh động và ấn tượng hơn
Ví dụ :  Khi dạy đoạn 3 của tác phẩm Tây Tiến, Gv trình chiếu đoạn phim tài liệu về đời sống của người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp đồng thời qua kiến thức lịch sử giúp các em hình dung ra tính chất ác liệt của cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước.
7.3.4.4. Sử dụng tài liệu các lĩnh vực văn hóa khác.
 Việc vận dụng kiến thức liên môn của giáo dục công dân, giáo dục kĩ năng sống giúp các em bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ tổ quốc; tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc; có ý thức học tập, rèn luyện để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước. Trân trọng, gìn giữ những danh lam thắng cảnh, những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc. 
(Giáo dục công dân 10- Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục công dân 11- Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường, Bài 13: Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa.)
hay tư tưởng tác phẩm.
7.3.5. Cách tích hợp liên môn trong nội dung dạy học tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng 
* Để thực hiện tốt bài dạy của mình, tôi đã thực hiện các bước sau: 
Bước 1: Đọc kỹ tác phẩm
Bước 2: Nắm vững kiến thức cần đạt
Bước 3: Tìm hiểu kiến thức có liên quan ở trong SGK, sách tham khảo, mạng internetcủa các môn HS đã và đang học để liên hệ tích hợp.
Bước 4: Lựa chọn, sắp xếp ý để soạn giáo án.
Bước 5: Tiến hành giảng dạy tác phẩm theo hướng tích hợp với các môn Lịch Sử, Địa Lý, Giáo Dục Công Dân
* Để giúp học sinh nắm được tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng, Gv cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu những nội dung sau:
- Nội dung 1: Tìm hiểu xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
- Nội dung 2: Tìm hiểu giá trị nội dung của tác phẩm (thông qua những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp nghệ thuật)
- Nội dung 3: Tìm hiểu giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
- Nội dung 4: Tìm hiểu ý nghĩa tác phẩm.
7.3.5.1. Hướng dẫn HS tìm hiểu xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm
- Tìm hiểu vài nét về tác giả
- Tìm hiểu xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Để hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung này, GV cần tìm hiểu những kiến thức lịch sử trong SGK lịch sử hay tài liệu tham khảo môn Lịch sử để có những kiến thức chính xác, chặt chẽ. 
Trong các bài học ở sách giáo khoa, các nhà biên soạn đã có phần tiểu dẫn trình bày về tác giả hoàn cảnh ra đời tác phẩm để giáo viên khai thác tuy nhiên vẫn cần có sự tham khảo thêm sử liệu để làm rõ yếu tố thời đại.
7.3.5.2. Hướng dẫn Hs khám phá nội dung tác phẩm qua hệ thống các luận điểm của tác phẩm.
Để làm được phần này, Gv cần chú trọng vào các câu hỏi sau để khai thác và chuẩn bị kiến thức:
- Chia bố cục của tác phẩm (chia tác phẩm thành mấy phần để phân tích)?
- Các phần đó được triển khai bằng cách nào? Nhậ

Tài liệu đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_day_hoc_tich_hop_lien_mon_tac_pham_tay.doc