Chuyên đề Cuộc cách mạng khoa học, kĩ thuật từ năm 1945 đến nay

Chuyên đề Cuộc cách mạng khoa học, kĩ thuật từ năm 1945 đến nay

Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật là một nội dung nằm trong hệ thống kiến thức lịch sử nhân loại, nó mang tính lí luận cao. Trong thời đại ngày nay, khoa học – kĩ thuật cùng với nông nghiệp, công nghiệp là các yếu tố của cơ sở vật chất – kĩ thuật. “Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật từ năm 1945 đến nay” là một trong năm nội dung chính của lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến nay, nằm trong chương trình lịch sử thế giới của môn Lịch sử lớp 9.

Như vậy vị trí, vai trò của cách mạng khoa học – kĩ thuật là rất quan trọng không thể thiếu cho một cuộc sống hiện đại và sự phát triển của đất nước. Việc giúp học sinh có nhận thức đúng về khoa học – kĩ thuật là việc làm phải theo đúng phương pháp bộ môn, học sinh sẽ có phương pháp học tập đúng, học giỏi môn Lịch sử.

Thực tế của việc dạy học sinh giỏi môn Lịch sử ở cấp trung học cơ sở (THCS) có nhiều nội dung cần phải giải quyết. Trong khuôn khổ chuyên đề này, tôi chỉ muốn tập trung xung quanh một nội dung là “Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật từ năm 1945 đến nay”.

Yếu tố kĩ thuật xuất hiện từ rất sớm, nhưng Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật mới chỉ diễn ra ở những thế kỉ gần đây. Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật là một nội dung kiến thức của bộ môn Lịch sử hầu như không được các em học sinh chú ý, coi trọng. Học sinh giỏi môn Lịch sử cấp THCS nói chung trong nhận thức của các em còn coi Lịch sử là môn phụ, nên ít để ý đến việc học tập bộ môn.

Hiện nay khối lượng tri thức nhân loại luôn tăng theo cấp số nhân. Để tiếp thu hệ thống kiến thức đó không phải là việc đơn giản. Thông thường thì người học không nắm chắc chắn những vấn đề lớn, việc hiểu còn nông cạn.

Trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp, tôi thấy rằng học sinh thường lúng túng, mất điểm khi gặp những nội dung lớn, mở rộng nâng cao. Đa số học sinh cho rằng đó là vấn đề khó, nên việc trả lời các câu hỏi có nội dung lớn, mở rộng nâng cao thường được các em làm một cách chiếu lệ, nên vừa mất thời gian lại vừa mất điểm trong khi làm bài. Qua nhiều năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, tôi luôn trăn trở và suy nghĩ mình phải làm thế nào để học sinh yêu thích bộ môn và giải quyết được tất cả các vấn đề lớn, khó một cách chủ động, tích cực. Điều đó đòi hỏi ở việc chuẩn bị công phu của thầy, trang bị cho học sinh đầy đủ kiến thức, và cải tiến phương pháp giảng dạy học sinh giỏi để các em luôn hứng thú, yêu thích, say mê học tập. Trong các nội dung để dạy học sinh giỏi lớp 9 tôi thấy nội dung “Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật từ năm 1945 đến nay” có nhiều kiến thức dễ khai thác để giảng dạy học sinh giỏi, giải quyết được những vấn đề mà tôi trăn trở ở trên.

doc 20 trang Mai Loan 27/08/2025 340
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề Cuộc cách mạng khoa học, kĩ thuật từ năm 1945 đến nay", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Họ và Tên: Trần Lê Sỹ
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Vĩnh Tường, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
 CHUYÊN ĐỀ:
 CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC – KĨ THUẬT TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
 Đối tượng bồi dưỡng: Đội tuyển HSG lớp 9.
 Số tiết: 06
A. Lí do chọn chuyên đề:
 Lịch sử là bộ môn khoa học mang tính xã hội và nhân văn. Môn học này trang 
bị cho học sinh khối lượng kiến thức rất đồ sộ về tiến trình lịch sử của nhân loại.
 Để nắm vững kiến thức về một vấn đề nào đó đã khó nhưng để nắm khái quát, 
rồi đến nắm vững toàn bộ kiến thức lịch sử nhân loại lại là vấn đề càng khó khăn 
hơn.
 Xuất phát từ lí luận dạy học, nội dung - kiến thức là một cơ sở để người thầy 
hình thành phương pháp dạy học đúng, phù hợp.
 Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật là một nội dung nằm trong hệ thống kiến 
thức lịch sử nhân loại, nó mang tính lí luận cao. Trong thời đại ngày nay, khoa học – 
kĩ thuật cùng với nông nghiệp, công nghiệp là các yếu tố của cơ sở vật chất – kĩ 
thuật. “Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật từ năm 1945 đến nay” là một trong năm 
nội dung chính của lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến nay, nằm trong chương 
trình lịch sử thế giới của môn Lịch sử lớp 9.
 Như vậy vị trí, vai trò của cách mạng khoa học – kĩ thuật là rất quan trọng 
không thể thiếu cho một cuộc sống hiện đại và sự phát triển của đất nước. Việc giúp 
học sinh có nhận thức đúng về khoa học – kĩ thuật là việc làm phải theo đúng 
phương pháp bộ môn, học sinh sẽ có phương pháp học tập đúng, học giỏi môn Lịch 
sử.
 Thực tế của việc dạy học sinh giỏi môn Lịch sử ở cấp trung học cơ sở (THCS) 
có nhiều nội dung cần phải giải quyết. Trong khuôn khổ chuyên đề này, tôi chỉ 
muốn tập trung xung quanh một nội dung là “Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật từ 
năm 1945 đến nay”.
 Yếu tố kĩ thuật xuất hiện từ rất sớm, nhưng Cuộc cách mạng khoa học – kĩ 
thuật mới chỉ diễn ra ở những thế kỉ gần đây. Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật là 
một nội dung kiến thức của bộ môn Lịch sử hầu như không được các em học sinh 
chú ý, coi trọng. Học sinh giỏi môn Lịch sử cấp THCS nói chung trong nhận thức 
của các em còn coi Lịch sử là môn phụ, nên ít để ý đến việc học tập bộ môn.
 Hiện nay khối lượng tri thức nhân loại luôn tăng theo cấp số nhân. Để tiếp thu 
hệ thống kiến thức đó không phải là việc đơn giản. Thông thường thì người học 
không nắm chắc chắn những vấn đề lớn, việc hiểu còn nông cạn.
 Trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp, tôi thấy rằng học sinh thường lúng 
túng, mất điểm khi gặp những nội dung lớn, mở rộng nâng cao. Đa số học sinh cho 
 147 + Những phát minh to lớn trong lĩnh vực khoa học cơ bản – Toán học, Vật lí, 
Hóa học và Sinh học.(tháng 3/1997 cừu Đô-li ra đời bằng phương pháp sinh sản vô 
tính; từ tháng 6/2000 đến tháng 4/2003 Tiến sĩ Cô lin đã công bố “Bản bản đồ gen 
người” và giải mã được 99% gen người,...)
 Ý nghĩa: Những thành tựu đó đã được ứng dụng vào kĩ thuật và sản xuất phục 
vụ cuộc sống.
Minh họa:
 Cừu Đô-li, động vật đầu tiên ra đời 
 bằng phương pháp sinh sản vô tính.
 + Những phát minh lớn về công cụ sản xuất mới như: máy tính điện tử, máy 
tự động và hệ thống máy tự động.)
 Máy tính điện tử được đánh giá là một trong những thành tựu quan trọng nhất 
của thế kỉ XX.
 Ý nghĩa: Thay thế lao động của con người trong những hoàn cảnh đặc biệt, 
góp phần nâng cao năng suất lao động phục vụ cuộc sống.
 Ví dụ: Siêu máy tính, tính được 35 nghìn tỉ phép tính trong một giây (tên là 
“máy tính mô phỏng thế giới”( ESC), tháng 3/2002 người Nhật đã đưa vào sử dụng).
 + Tìm ra những nguồn năng lượng mới hết sức phong phú và vô tận như: 
năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều,...
 Có ý nghĩa to lớn bởi nguồn năng lượng thiên nhiên đang vơi cạn.
Minh họa:
 Năng lượng xanh (điện mặt trời) ở Nhật Bản.
 + Sáng chế những vật liệu mới như: pôlime(chất dẻo). Số loại vật liệu mới 
luôn tăng: từ 250 000 loại (1976) lên 335 000 loại (1982).
 149 + Mang lại những hậu quả tiêu cực (chủ yếu do con người tạo ra): chế tạo các 
loại vũ khí hủy diệt; ô nhiễm môi trường; những tai nạn lao động và tai nạn giao 
thông; việc nhiễm phóng xạ nguyên tử; các loại dịch bệnh mới; những đe dọa về đạo 
đức xã hội và an ninh đối với con người.
2. Kiến thức nâng cao, mở rộng:
 2.1. Nguồn gốc:
 - Do yêu cầu của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai(1939-1945), các bên tham 
chiến phải đi sâu nghiên cứu khoa học – kĩ thuật để cải tiến vũ khí và sáng tạo ra 
loại vũ khí mới có sức hủy diệt lớn hơn, và những phương tiện thông tin liên lạc mới 
nhằm giành thắng lợi về mình. Nơi khởi đầu cuộc cách mạng này là Mĩ và nó nhanh 
chóng lan ra khắp thế giới. 
 - Những thành tựu về khoa học – kĩ thuật cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX cũng 
tạo tiền đề và thúc đẩy sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật lần thứ 
hai.
 - Nguồn gốc của cách mạng khoa học – công nghệ(giai đoạn 2) là nhằm giải 
quyết những đòi hỏi của sản xuất và cuộc sống của con người về công cụ sản xuất, 
các nguồn năng lượng và những vật liệu mới.
 2.2. Các giai đoạn phát triển:
 Cách mạng khoa học – kĩ thuật ngày nay đã phát triển qua hai giai đoạn:
 - Giai đoạn đầu từ những năm 40 đến nửa đầu những năm 70 của thế kỉ XX.
 - Giai đoạn thứ hai bắt đầu từ cuộc khủng khoảng năng lượng năm 1973 đến 
nay. Trong giai đoạn sau, cuộc cách mạng chủ yếu diễn ra về công nghệ với sự ra 
đời của thế hệ máy tính điện tử mới(thế hệ thứ ba), về vật liệu mới, về những dạng 
năng lượng mới và công nghệ sinh học, về phát triển tin học. Cuộc cách mạng công 
nghệ trở thành cốt lõi của cách mạng khoa học – kĩ thuật nên giai đoạn thứ hai đã 
được gọi là cách mạng khoa học – công nghệ.
 2.3. Đặc điểm:
 - Đặc điểm lớn nhất là khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Trong 
cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại mọi phát minh kĩ thuật đều bắt nguồn 
từ nghiên cứu khoa học. Khoa học gắn liền với kĩ thuật, khoa học đi trước mở đường 
cho sản xuất. Khoa học đã tham gia trực tiếp vào sản xuất, đã trở thành nguồn gốc 
chính của những tiến bộ kĩ thuật và công nghệ hàng ngày. 
 - Thời gian từ phát minh khoa học đến ứng dụng vào sản xuất ngày càng được 
rút ngắn.
 - Hiệu quả kinh tế ngày càng cao của công tác nghiên cứu khoa học. Kinh 
nghiệm của các nước phát triển chỉ rõ: đầu tư vào khoa học cho lãi cao hơn so với 
đầu tư vào các lĩnh vực khác.
 2.4. Khái niệm Cách mạng khoa học – kĩ thuật: Sự biến đổi về chất và kết hợp 
chặt chẽ những phát minh lớn lao trong các ngành khoa học với sự phát triển kĩ 
thuật trong sản xuất tạo thành một lực lượng mạnh mẽ thúc đẩy nhanh chóng kinh tế 
và sinh hoạt xã hội, bắt đầu từ giữa thế kỉ XX. (Hiện nay còn dùng từ “cách mạng 
khoa học – công nghệ” vì nhấn mạnh yếu tố công nghệ được đưa lên hàng đầu). Ở 
 151 
Máy tính điện tử hiện đại. Thế hệ máy tự động CNC Rô bốt thám hiểm Sao Hỏa 
 - Năng lượng mới:
 + Khái niệm năng lượng: tổng thể sức mạnh tạo nên bởi hoạt động của con 
người, sức kéo của súc vật, hoặc do các chất đốt, sức nước chảy, của gió, mặt trời... 
cần cho lao động sản xuất và đời sống.
 + Năng lượng gió: con người sử dụng sức gió để tạo ra điện.
 + Năng lượng mặt trời: các nước nhiệt đới đã dùng sức nóng của Mặt Trời để 
phục vụ cho các nhu cầu của đời sống con người. Như: Bếp Mặt Trời: dùng nấu chín 
thực phẩm. Mỗi bếp Mặt Trời có nhiều tấm gương kim loại bóng để phản chiếu ánh 
sáng từ Mặt Trời. Những gương này sẽ tập trung năng lượng sức nóng của Mặt Trời 
tới một điểm, sau đó người ta dùng năng lượng tập trung đó để nấu thức ăn và đun 
sôi nước.
 + Năng lượng hạt nhân: là nguồn năng lượng đang còn gây nhiều tranh luận, 
nó không đắt và không gây ô nhiễm không khí, nhưng những chất phóng xạ thoát ra 
trong quá trình xảy ra sự cố ở các nhà máy năng lượng hạt nhân là nguyên nhân gây 
chết người và hủy hoại môi trường. Dù vậy năng lượng hạt nhân hiện sản xuất 
chiếm gần 17% năng lượng điện trên thế giới.
Minh họa: 
Nhà máy năng lượng hạt nhân ở A-ri-zô-na(Arizona) Ô tô mặt trời.
 - Vật liệu mới: 
 + Những vật liệu siêu sạch, siêu bền, siêu nhẹ, siêu dẫn, siêu cứng,...
 + Gần đây người ta chế tạo ra chất têphơtông làm chất cách điện rất tốt, 
không cháy, không thấm nước, đốt nóng 350o hay làm lạnh -200o mà vẫn không việc 
gì.
 153 + Nhiều loại máy bay hiện đại như Boeing, Airbus,...
 + Sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại 
dẫn đến một hiện tượng là sự bùng nổ thông tin,...
Minh họa:
 Máy bay Boeing 747 SP. Vị trí của vệ tinh VNsat-1
 phát sóng truyền hình của Việt Nam.
 - Chinh phục vũ trụ: 
 + Nhiều thành tựu mới về du hành vũ trụ. Hiện nay, con người đang nghiên 
cứu những bí ẩn của sao Kim, sao Hỏa, sao Thủy, sao Mộc. 
 + Nhiều nước phóng thành công tàu thám hiểm lên Mặt Trăng, như: Nhật 
Bản, Trung Quốc,... Con người đặt chân lên Mặt Trăng, thực hiện được ước mơ bao 
đời nay của con người(muốn được bay lên cung Trăng), điều mà trước đây chỉ có ở 
trong chuyện cổ tích, thật thần kì.
 + Phạm Tuân là phi công, phi hành gia người Việt Nam, ông là người đầu 
tiên của Việt Nam và châu Á bay lên vũ trụ vào năm 1980 trong chương trình 
Intercosmos của Liên Xô.
Minh họa: 
 Vệ tinh nhân tạo(1957). 12/4/1961 Yuri Gagarin hoàn thành
 chuyến bay vòng quanh Trái Đất.
 155

Tài liệu đính kèm:

  • docchuyen_de_cuoc_cach_mang_khoa_hoc_ki_thuat_tu_nam_1945_den_n.doc