SKKN Sử dụng các bài hát, tục ngữ, ca dao trong dạy học Địa lí 12 phần Địa lí tự nhiên 12 tại trường THPT Triệu Thái

SKKN Sử dụng các bài hát, tục ngữ, ca dao trong dạy học Địa lí 12 phần Địa lí tự nhiên 12 tại trường THPT Triệu Thái

Cơ sở lí luận

Hiện nay theo chương trình cải cách giáo dục đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục. Điều 24.2 “Giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phải phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng kỹ năng tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, nhằm tác động tới tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”

Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụng các phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của HS.

Việc dạy học Địa lí nói chung cần đảm bảo các nguyên tắc giáo dục, đây là các luận điểm có tính chất chỉ đạo, những quy định, yêu cầu cơ bản mà người giáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học. Việc sử dụng, áp dụng các bài hát, câu ca dao, tục ngữ phù hợp với từng nội dung kiến thức đã căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục (môn Địa lí)

Mỗi một môn học đều có những đặc điểm riêng về nội dung và các nguồn tri thức cũng như về phương pháp dạy và học. Đối với môn Địa lí là môn học có nội dung kiến thức sâu rộng về tự nhiên và kinh tế xã hội với nhiều nội dung khó, khô khan, trừu tượng đặc biệt phần Địa lí tự nhiên. Vậy làm thế nào để có một tiết học Địa lí trở nên sinh động, gần gũi với thực tiễn, tạo hứng thú cho HS giúp các em tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng, hiệu quả? Tôi nghĩ đây là một câu hỏi, một nỗi trăn trở lớn không chỉ của riêng tôi mà còn của rất nhiều giáo viên dạy Địa Lí khác.

Theo tôi, câu trả lời ở đây chính là GV cần phải đổi mới phương pháp dạy học của mình. Trước hết, GV cần tích cực sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới hiện nay như hoạt động nhóm, động não, khăn trải bàn, các mảnh ghép, dạy học theo dự án Đồng thời cũng phải chú trọng đến một số phương pháp, kĩ năng mang tính đặc trưng của môn học như đọc atlat, vẽ và nhận xét các dạng biểu đồ, phân tích bảng số liệu thống kê .

Qua những năm trực tiếp tham gia giảng dạy Địa lí 12 tôi nhận thấy rằng, việc sử dụng lồng ghép các bài hát, câu tục ngữ, ca dao để hình thành khái niệm, kiến thức địa lí đều đảm bảo các nguyên tắc trên. Nhất là các nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức đối với học sinh và nguyên tắc đảm bảo tính tự lực, phát triển tư duy cho học sinh nhưng không kém phần thú vị, hấp dẫn thu hút học sinh với những kiến thức mới.

 

docx 23 trang cucnguyen11 14/10/2021 521
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Sử dụng các bài hát, tục ngữ, ca dao trong dạy học Địa lí 12 phần Địa lí tự nhiên 12 tại trường THPT Triệu Thái", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BÁO CÁO KẾT QUẢ 
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1. Lời giới thiệu
Địa lí là một môn khoa học có kiến thức rộng, bao gồm cả Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế- xã hội. Trong đó, phần Địa lí tự nhiên có nhiều nội dung khó, trừu tượng, khô khan. Hiện nay, việc giảng dạy Địa lí tự nhiên ở nhiều trường THPT còn mang nhiều tính lý thuyết, chưa chú ý đến việc liên hệ giữa kiến thức lý thuyết với thực tiễn khiến cho HS cảm thấy khó hiểu, khó học và không có hứng thú. Điều đó làm giảm sút chất lượng và hiệu quả giảng dạy của GV.
Để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh và chất lượng, hiệu quả giảng dạy, GV cần phải nắm vững kiến thức, đổi mới phương pháp giảng dạy, tích cực sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học, nội dung cho HS ghi ngắn gọn, xúc tích, từ ngữ dễ hiểu, đổi mới cách kiểm tra đánh giá Trong đó, việc đổi mới phương pháp giảng dạy là một vấn đề rất quan trọng.
Như chúng ta đã biết, ca dao, tục ngữ là một thể loại văn học dân gian Việt Nam được ông cha ta đã đúc kết từ thực tiễn đời sống, trong lao động sản xuất và cả việc theo dõi các diễn biến của các hiện tượng tự nhiên, vốn kinh nghiệm và hiểu biết của mình để truyền lại cho thế hệ sau.Trong nội dung của ca dao, tục ngữ có rất nhiều nội dung liên quan, phản ánh các hiện tượng địa lí một cách chính xác, gần gũi, dễ hiểu, dễ nhớ. Vì vậy để một tiết học Địa lí được sinh động, gần gũi hơn với thực tiễn, tạo hứng thú học tập cho HS. Đồng thời bồi dưỡng cho HS tình cảm yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc. Tôi nghĩ GV khi giảng dạy Địa lí có thể dùng những câu ca dao, tục ngữ hoặc thơ văn, bài hát để minh hoạ cho các nội dung kiến thức có liên quan trong bài dạy của mình.
Bản thân tôi cũng được ông bà, cha mẹ, thầy cô dạy nhiều những câu tục ngữ, ca dao của dân tộc. Vì vậy, tôi chọn SKKN: “Sử dụng các bài hát, tục ngữ, ca dao trong dạy học Địa lí 12 phần Địa lí tự nhiên ở trường THPT Triệu Thái” nhằm nâng cao hứng thú và kết quả học tập của các em HS lớp 12
2. Tên sáng kiến:
 Sử dụng các bài hát, tục ngữ, ca dao trong dạy học Địa lí 12 phần Địa lí tự nhiên 12 tại trường THPT Triệu Thái.
3. Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Hoàng Thị Qúy
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Triệu Thái – Lập Thạch – Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0973.884.612.
Email: hoangthiquy.gvtrieuthai@vinhphuc.edu.vn
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không 
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Góp phần nâng cao khả năng truyền đạt, giảng dạy cho giáo viên Địa Lí, đặc biệt giáo viên dạy Địa Lí 12 phần Địa lí tự nhiên.
6. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 20/08/ 2017 đến 20/5/2018
7. Mô tả bản chất của sáng kiến:
- Về nội dung của sáng kiến:
7.1 Cơ sở lí luận 
Hiện nay theo chương trình cải cách giáo dục đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục. Điều 24.2 “Giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phải phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng kỹ năng tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, nhằm tác động tới tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”
Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụng các phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của HS.
Việc dạy học Địa lí nói chung cần đảm bảo các nguyên tắc giáo dục, đây là các luận điểm có tính chất chỉ đạo, những quy định, yêu cầu cơ bản mà người giáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạy học. Việc sử dụng, áp dụng các bài hát, câu ca dao, tục ngữ phù hợp với từng nội dung kiến thức đã căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục (môn Địa lí)
Mỗi một môn học đều có những đặc điểm riêng về nội dung và các nguồn tri thức cũng như về phương pháp dạy và học. Đối với môn Địa lí là môn học có nội dung kiến thức sâu rộng về tự nhiên và kinh tế xã hội với nhiều nội dung khó, khô khan, trừu tượng đặc biệt phần Địa lí tự nhiên. Vậy làm thế nào để có một tiết học Địa lí trở nên sinh động, gần gũi với thực tiễn, tạo hứng thú cho HS giúp các em tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng, hiệu quả? Tôi nghĩ đây là một câu hỏi, một nỗi trăn trở lớn không chỉ của riêng tôi mà còn của rất nhiều giáo viên dạy Địa Lí khác.
Theo tôi, câu trả lời ở đây chính là GV cần phải đổi mới phương pháp dạy học của mình. Trước hết, GV cần tích cực sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới hiện nay như hoạt động nhóm, động não, khăn trải bàn, các mảnh ghép, dạy học theo dự ánĐồng thời cũng phải chú trọng đến một số phương pháp, kĩ năng mang tính đặc trưng của môn học như đọc atlat, vẽ và nhận xét các dạng biểu đồ, phân tích bảng số liệu thống kê.
Qua những năm trực tiếp tham gia giảng dạy Địa lí 12 tôi nhận thấy rằng, việc sử dụng lồng ghép các bài hát, câu tục ngữ, ca dao để hình thành khái niệm, kiến thức địa lí đều đảm bảo các nguyên tắc trên. Nhất là các nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức đối với học sinh và nguyên tắc đảm bảo tính tự lực, phát triển tư duy cho học sinh nhưng không kém phần thú vị, hấp dẫn thu hút học sinh với những kiến thức mới.
 7.2. Thực trạng tại trường THPT Triệu Thái 
	- Học sinh không thích học, lười học, không biết nhận xét biểu đồ, bảng số liệu, tranh ảnh, video còn rất lúng túng.
	- Kiểm tra bài thường không học thuộc bài, một số vẫn còn thái độ sai, nhìn bài, trao đổi....
	- Những câu hỏi phát vấn trong giờ học thường rất ít học sinh phát biểu chỉ một vài học sinh có học lực khá xung phong trả lời bài.
	- Tâm lý học sinh là một môn học khô khan, môn phụ, học sinh học lệch hoặc bỏ hẳn để học các môn thi vào đại học là những trở ngại lớn.
	- Nhiều giáo viên rất tâm huyết tuy nhiên còn một số ít giáo viên chưa tâm huyết với nghề nghiệp, chưa đầu tư nhiều vào chuyên môn do nhiều nguyên nhân. Nhưng thực tế đây là một môn thi có thể gánh điểm cho một số môn Tiếng Anh, Toán .. để học sinh đỗ tốt nghiệp với tỉ lệ ngày càng cao ở các trường THPT.
7.3. Giải pháp thực hiện.
7.3.1. Khái niệm và tác dụng các bài hát, tục ngữ, ca dao trong dạy học Địa Lí 12 phần Địa lí tự nhiên.
Bài hát là gì?
	Bài hát hay còn gọi là bài ca, ca khúc, khúc ca thường là một sản phẩm âm nhạc, gồm có phần lời hát và giai điệu nhạc.Thường được thể hiện bằng các giọng hát của con người và có nhạc cụ kèm theo.
Tục ngữ là gì?
	Tục ngữ là “ câu nói có ý nghĩa, dễ nhớ vì có vần điệu, lưu hành bằng cách truyền miệng từ người này sang người khác từ nơi này đi nơi khác”
	Nói chungTục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, là những nhận xét giải thích của nhân dân về các hiện tượng của tự nhiên liên quan đến thời tiết và khí hậu.
	Với đặc điểm ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, có nhịp điệu, có hình ảnh những câu tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác, được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại, được rút ta tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hoá những lời hay ý đẹp.
Ca dao là gì?
	Ca dao là bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, có vần điệu, theo thể thơ lục bát hay thơ bốn chữ, thơ năm chữ.
	Ca dao là thi ca truyền miệng mô tả phong tục tập quán, về thời tiết, khí hậu, những kinh nghiệm thiên văn học của người xưa.
* Tác dụng của các bài hát, tục ngữ, ca dao trong học tập Địa Lí
Việc hình thành hứng thú học tập cho HS đặc biệt là hứng thú học tập môn Địa lí là yêu cầu quan trọng của mỗi giáo viên Địa lí. Khi hỏi các em nhân tố nào quan trọng chủ yếu tạo nên hứng thú thú cho người học phụ thuộc nhiều vào người dạy hay người học, đa số các em cho rằng do người dạy.Khi các em nhận thức đúng thì các em có những mong đợi đối với GV thật hợp lí để bài học được phong phú, lôi cuốn.
Có nhiều phương tiện để GV sử dụng nhằm gây hứng thú học tập cho HS như: dùng đồ trực quan, tổ chức thăm quan dã ngoại, tổ chức chương trình ngoại khoá, tổ chức trò chơi Địa lí Tuy nhiên ngoài những cách trên còn có một cách cũng không kém phần hữu hiệu đó là dùng các bài hát, tục ngữ, ca dao sao cho phù hợp với bài học để tạo hứng thú cho HS.
Sử dụng hợp lý các bài hát, tục ngữ, ca dao trong bài học Địa lí là một cách làm đa dạng hoá các phương pháp dạy học, tránh hiện tượng HS bị nhàm chán với cách thức tổ chức lớp học, góp phần đa dạng hoá các kênh thông tin, làm bài học trở nên gần gũi với cuộc sống, HS nắm bắt nhanh hơn, hiểu sâu hơn, dễ thuộc bài hơn.
7.3.2. Một số các bài hát, tục ngữ, ca dao có thể sử dụng vào bài giảng Địa lí 12 phần tự nhiên
Phương pháp dạy học hiện đại với xu thế lấy HS làm trung tâm là phương pháp HS chủ động chiếm lĩnh tri thức. Các bài hát, tục ngữ, ca dao là những kho tàng kiến thức của nhân loại, được đúc kết và truyền miệng qua nhiều thế hệ. 
Việc sử dụng các bài hát, tục ngữ, ca dao trong dạy học Địa lí 12 phần tự nhiên là một phương pháp dạy học cụ thể chứ không đơn giản là một ví dụ minh hoạ cho bài học. Vậy trong quá trình dạy học, ta phải biết cách dùng nó một cách linh động, hiệu quả. Đây là một phương pháp dạy học nhanh và hiệu quả, đồng thời tạo cho HS hứng thú hăng say học tập và ngày càng thích thú với bộ môn Địa lí.
Bằng vốn kinh nghiệm ít ỏi của mình cùng với việc thực nghiệm tại các lớp giảng dạy trong những năm qua. Tôi xin mạnh dạn đưa ra những ví dụ cụ thể các bài hát, tục ngữ, ca dao có thể áp dụng được trong các bài học như sau:
Bài 6, 7: Đất nước nhiều đồi núi
GV khi dạy đến nội dung địa hình của vùng núi Tây Bắc có thể sử dụng
Câu ca dao: “Đường lên Mường Lễ bao la
 Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh”
Giải thích ý nghĩa:
	Câu ca dao trên đề cập đến địa hình vùng núi Tây Bắc cao, hiểm trở, xa xôi và rất nguy hiểm, đó là khi lên Mường Lễ (thị xã Mường Lay).
	Khi dạy đến nội dung địa hình của vùng đồng bằng Sông Cửu Long. GV có thể sử dụng câu ca dao: “Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
 Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm”
Giải thích ý nghĩa:
	Đồng bằng sông Cửu Long có địa hình khá bằng phẳng với những cánh đồng “thẳng cánh cò bay”. Đồng Tháp là vùng trũng ngập nước ở phần thượng châu thổ, nguồn tài nguyên thuỷ sản nước ngọt phong phú, giàu có
	Khi dạy đến nội dung hạn chế của khu vực đồi núi đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Gv có thể dùng câu ca dao: “Đường bộ thì sợ Hải Vân
 Đường thuỷ thì sợ sóng thần Hang Dơi”
Giải thích ý nghĩa:
	Đèo Hải Vân thuộc dãy núi Bạch Mã địa hình cao, phức tạp. Giao thông qua đèo Hải Vân trước khi có đường hầm gặp nhiều khó khăn. Câu ca dao nói lên những khó khăn của địa hình miền núi đến ngành giao thông vận tải nước ta. Ngày nay để phục vụ cho phát triển kinh tế- xã hội đất nước, cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nước ta đã thiết kế xây dựng đường hầm Hải Vân.
 Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
Khi dạy phần ảnh hưởng của biển Đông đến khí hậu Việt Nam, làm cho khí hậu nước ta mang nhiều đặc tính của khí hậu hải dương điều hoà hơn, lượng mưa và độ ẩm lớn, giảm tính khắc nghiệt của thời tiết lạnh khô trong mùa đông và làm dịu bớt thời tiết nóng bức trong mùa hạ. Chúng ta có thể lồng ghép một số câu ca dao, tục ngữ như:
“ Mùa nực gió đông thì đồng đầy nước”
Giải thích ý nghĩa:
“ Mùa nực” tức là nói đến mùa nóng- mùa hè, có gió Đông, Đông Nam mang hơi nước từ biển thổi vào dễ gây ra mưa, nên có hiện tượng “ đồng đầy nước” 
Hay : “ Cơn đằng Đông, vừa trông vừa chạy. Cơn đằng Nam, vừa làm vừa chơi”
Giải thích ý nghĩa:
	Về mùa hè, ở một số vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, dông ở phía Đông thường đến đia phương vì có gió thổi theo hướng Đông và Đông Nam từ biển vào gậy mưa to, gió lớn nên phải “ vừa trông vừa chạy”. Còn dông ở phía Nam đối với nhiều địa phương ở miền Bắc thường ít khi kéo đến vì mùa hè thường gió thịnh hành là Đông, Đông Nam, còn mùa đông là gió hướng Đông Bắc nên “ Cơn đằng Nam, vừa làm vừa chơi”.
	 Khi nói đến kiến thức Biển Đông còn ảnh hưởng đến địa hình vùng ven biển khiến cho địa hình ven biển nước ta rất đa dạng: các vịnh cửa sông, bờ biển mài mòn, tam giác châu có bãi triều rộng, bãi cát phẳng, đầm phá, cồn cát, vịnh nước sông, đảo ven bờ, vịnh san hô GV có thể dẫn câu ca dao: 
“ Thương anh em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
Giải thích ý nghĩa:
“ Truông” – Địa hình đồi cỏ, cằn cỗi ở Bắc Trung Bộ ( Hà Tĩnh) rất phổ biến.
“ Phá Tam Giang”- Vùng nước biển ăn sâu vào lục địa thông với cửa biển hẹp(cửa Thuận An, cửa Tư Hiền) thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Phá được 3 con sông đổ nước ngọt vào: sông Ô Lâu, sông Bồ, Sông Hương tạo vùng nước lợ với quần thể thuỷ sinh độc đáo: cá hanh, cá Dìa, cá Đối, Tômđặc biệt dưới đáy thảm rong phát triển rất dày. Nguồn phân hữu cơ được người dân khai thác bón cho hoa màu.
Bài 9: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (tiết 1)
Khí hậu Việt Nam mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa. Tính chất gió mùa được biểu hiện với một năm có hai mùa gió chính là gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ. Tính chất gió mùa còn ảnh hưởng rất lớn sự phân hoá khí hậu nước ta cả về không gian và thời gian: Miền Bắc có 2 mùa: Mùa đông lạnh, ít mưa. Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều. Miền Nam có 2 mùa: mưa và khô. Giữa Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Trung Trung Bộ lại có sự đối lập giữa mùa mưa và mùa khô.
	- Gió mùa mùa đông: bản chất là khối khí lạnh phương Bắc, di chuyển theo hướng Đông Bắc tác động vào miền Bắc nước ta. Hoạt động từ tháng XI đến tháng IV năm sau tạo cho miền Bắc nước ta một mùa đông lạnh, trong đó nửa đầu mùa đông thời tiết lạnh khô, còn nửa sau mùa đông thời tiết lạnh ẩm có mưa phùn ở vùng ven biển và các đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. 
Để làm rõ hơn tính chất và tác động của gió mùa Đông Bắc, GV có thể dẫn chứng một số câu ca dao, tục ngữ sau:
“ Mùa đông mưa dầm gió Bấc”
Giải thích ý nghĩa:
	“ Mưa dầm” là loại mưa phùn (mưa bay) rơi dai dẳng từ ngày nọ sang ngày kia, hạt mưa nhỏ như hạt bụi, rơi xuống mặt đất hay mặt nước cũng không để lại dấu vết gì. Sở dĩ có loại mưa này do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc đi qua biển vào cuối mùa đông( do áp Alê út hút gió) còn gió Bấc là do gọi lệch chữ Bắc mà ra, đó chính là gió mùa Đông Bắc. Cái rét tê tái, buốt tận xương tuỷ của thời tiết mùa đông còn được Hồ Chủ Tịch diễn tả qua 2 câu thơ:
“ Gió sắc tựa gươm mài đá núi
Rét như dùi nhọn chích cành cây”
	Chính cái rét ấy cũng là một nét cực đoan của khí hậu miền Bắc nước ta trong mùa đông, nhất là ở miền núi cao.
	- Gió mùa mùa hạ: Thổi vào nước ta theo hướng Tây Nam( riêng Bắc Bộ có hướng Đông Nam), từ tháng V đến tháng X nhưng nguồn gốc từ 2 khối khí khác nhau. Đầu mùa hạ là khối khí nhiệt đới ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương, gây mưa lớn cho đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên. Khi vượt qua dãy Trường Sơn và các dãy núi chạy dọc biên giới Việt – Lào xuống vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ và phần nam của khu vực Tây Bắc, khối khí này trở nên khô nóng (gọi là gió Phơn – gió Lào). Vào giữa và cuối mùa hạ, gió Tây Nam xuất phát từ cao áp cận chí tuyến bán cầu Nam, hoạt động mạnh, gây nóng ẩm mưa nhiều trong cả nước.
	Để cho HS thấy rõ hơn những đặc điểm của thời tiết mùa hạ, GV có thể dẫn chứng một số câu ca dao, tục ngữ sau: 
“ Mùa hè mưa to gió lớn”
Giải thích ý nghĩa:
	Ở miền Bắc, mùa hè từ tháng V đến tháng X, do ảnh hưởng của gió mùa mùa hạ(gió mùa Tây Nam) như đã nói ở trên, đồng thời do tác động của những nhiễu loạn hoàn lưu khí quyển (dông, bão, dải hội tụ nhiệt đới) nên mưa nhiều, mưa lớn.
Hay để nói biến trình năm của lượng mưa ở miền Bắc nước ta, tục ngữ có câu: 
“ Mưa tháng bảy gãy cành trám”
Giải thích ý nghĩa:
	Câu tục ngữ này đã nói một cách chính xác biến trình năm của lượng mưa ở Bắc Bộ, lượng mưa trong năm xẩy ra vào tháng VII dương lịch ở các miền Tây Bắc, Đông Bắc và trung du. Còn ở miền đồng bằng và ven biển (từ Hồng Gai trở xuống) lượng mưa cực đại vào tháng VIII. Mưa tháng VII còn được gọi là mưa Ngâu.
	Mưa Ngâu là nguyên nhân chính gây lũ lụt ở Bắc Bộ. Nguyên nhân chính gây ra mưa Ngâu là ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới. Ngoài ra để diễn tả một kiểu thời tiết đặc trưng của mùa hè là nắng nóng. Tục ngữ có câu: “ Nắng tháng tám, rám trái bòng”
Câu tục ngữ: “ Tháng giêng rét dài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân”
Giải thích ý nghĩa:
	Tháng giêng và tháng hai âm dương lịch tương ứng với tháng hai và tháng ba dương lịch. Thời gian này ở miền Bắc thời tiết ấm áp hơn, kết hợp với hiện tượng mưa phùn, độ ẩm tăng không khí cao nên thuận lợi cho cây trồng phát triển đâm chồi nảy lộc.
	Rét nàng Bân là cách gọi dân gian của đợt rét cuối cùng của mùa đông thường kèm theo mưa phùn xẩy ra vào tháng ba âm dương lịch, tháng tư dương lịch ở miền Bắc Việt Nam
Câu tục ngữ: “ Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy
 Cơn đằng Tây vừa cày vừa ăn”
Giải thích ý nghĩa:
	Mùa hè nhất là vào tháng bảy ở đồng bằng và ven biển Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, nhiệt độ không khí trên lục địa cao, hình thành khu áp thấp hút gió (khối khí ẩm) từ biển vào gây nên những trận mưa lớn cùng với sự xuất hiện của khí áp thấp gây nên mưa bão. Vì vậy “ Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy” 
	Do ảnh hưởng của địa hình dãy Hoàng Liên Sơn, dãy Trường Sơn nên khi có gió Tây Nam (gió Tây) gây mưa cho Nam Bộ và Tây nguyên. Ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và ven biển Nam Trung Bộ không có mưa
 Câu ca dao: “ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
 Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Giải thích ý nghĩa:
	Ở Bắc Bộ vào đầu mùa hạ thường xẩy ra hiện tượng mưa giông do có sự tranh chấp của các khối khí. Sấm thường được hình thành vào mùa hè. Trong quá trình phát ra tia lửa điện nung nóng không khí, ni tơ tự do trong không khí tổng hợp tạo ra muối ni tơ theo nước mưa giông rơi xuống, cung cấp một nguồn đạm tự nhiên từ khí trời khá lớn cho cây trồng thêm tốt tươi. Lúa chiêm ở miền Bắc từ tháng hai- tháng sáu là thời kì đẻ nhánh và làm đòng, gặp mưa giông đầu mùa thì lúa sẽ phát triển mạnh hơn mùa màng bội thu.
Bài 10: Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa (tiết 2)
Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất và đời sống, nhất là sản xuất nông nghiệp. Nền nhiệt ẩm cao, khí hậu có sự phân hoá đa dạng (theo mùa, theo độ cao, theo Bắc - Nam) tạo điều kiện để nước ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới quanh năm năng suất cao, nhất là trồng lúa nước, có khả năng xen canh, tăng vụ, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi. .. Tuy nhiên, tính thất thường của thời tiết, khí hậu gây khó khăn cho hoạt động canh tác, cơ cấu cây trồng, kế hoạch thời vụ, phòng chống thiên tai, phòng trừ dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp.
	Để liên hệ gần gũi với thực tiến, GV có thể lấy ví dụ rất nhiều câu ca dao, tục ngữ nói về ảnh hưởng của thời tiết và khí hậu nước ta đối với sản xuất nông nghiệp, nhất là tính mùa vụ như:
“ Tháng chạp là tiết trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư rắc mạ thuận hoà nơi nơi
Tháng năm gặt hái vừa rồi
Bước sang tháng sáu nước trôi đầy đồng
Nhà nhà, vợ vợ, chồng chồng
Đi làm ngoài đồng sá kể sớm trưa
Tháng sáu, tháng bảy khi vừa
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ gianh
Tháng tám lúa trổ đã đành
Tháng mười gặt hái cho nhanh kịp người”
Hay như câu tục ngữ: “ Đông chết se, hè chết lụt”
Giải thích ý nghĩa:
	“ Đông chết se” là do giá rét mạnh và mùa đông gây nên hiện tượng hạn sinh lí. Tức là cây trồng bị chết khô vì bộ rễ không có khả năng hút nước, dù trong đất có đủ nước, do nhiệt độ đất hạ xuống thấp gây nên. Vì vậy, trong mùa đông cần chống lạnh cho người già, gia súc và cây trồng để bảo vệ đời sống con người và sản xuất.
	“ Hè chết lụt” do mùa hè mưa nhiều, bão, gây lũ lụt, tổn thất mùa màng, tài sản và tính mạng của con người.
 GV có thể sử dụng câu tục ngữ: “ Ba ngày gió Nam, mùa màng mất trắng”
Giải thích ý nghĩa:
	“ Gió Nam” tức là gió Lào (gió Phơn do vượt dãy Trường Sơn Bắc) ở vùng Bắc Trung Bộ có đặc điểm rất khô và nóng, gây tác hại rất lớn cho mùa màng.
Sự thất thường của thời tiết khí hậu ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất nông nghiệp như câu ca dao: “ Có đói thì con ăn khoai 
 Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng”
Giải thích ý nghĩa:
Do về mùa đông có hiện tượng rét muộn đến tận tháng ba (rét nàng Bân) gây thiệt hại cho lúa Chiêm trổ sớm.
Hay câu ca dao: 
“ Mồng tám tháng tư không mưa
Bỏ cả cày bừa mà lấp lúa đi”
Hoặc GV 

Tài liệu đính kèm:

  • docxskkn_su_dung_cac_bai_hat_tuc_ngu_ca_dao_trong_day_hoc_dia_li.docx