SKKN Rèn luyện cho học sinh miền núi kĩ năng khai thác kênh hình trong SGK sinh học 11, THPT

SKKN Rèn luyện cho học sinh miền núi kĩ năng khai thác kênh hình trong SGK sinh học 11, THPT

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã ghi:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.

Trong luật GD Việt Nam, điều 28.2 đã chỉ rõ “Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy học thì GD phải đổi mới về nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học.

 

doc 14 trang thuychi01 15/06/2020 100
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Rèn luyện cho học sinh miền núi kĩ năng khai thác kênh hình trong SGK sinh học 11, THPT", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã ghi:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Trong luật GD Việt Nam, điều 28.2 đã chỉ rõ “Phương pháp GD phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Vì vậy, để nâng cao chất lượng dạy học thì GD phải đổi mới về nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học.
Khác với quá trình nhận thức trong nghiên cứu khoa học, quá trình nhận thức trong học tập không phát hiện những điều loài người chưa biết mà nhằm lĩnh hội những tri thức mà loài người đã tích lũy được thông qua kênh chữ, kênh hình. Trong dạy học Sinh học, kênh hình bao gồm các sơ đồ, tranh ảnh về đối tượng, quá trình, cơ chế sinh học, là phương tiện dạy học đặc trưng cho bộ môn Sinh học. Theo xu hướng hiện nay là giảm bớt thuyết trình của giáo viên, tạo điều kiện để học sinh học tập tích cực nên kênh hình được sử dụng như là một nguồn cung cấp kiến thức giúp học sinh tự tìm tòi, phát hiện những kiến thức và rèn luyện kĩ năng bộ môn chứ không chỉ để minh họa cho lời giảng của giáo viên. Như vậy kênh hình là đối tượng để học sinh chủ động, tự lực khai thác kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Do đó việc rèn luyện cho học sinh kĩ năng khai thác tốt kênh hình trong học tập bộ môn sinh học là một yêu cầu cấp thiết và mang tính quyết định đến sự thành công trong dạy - học của thầy và trò.
Từ quan điểm chỉ đạo trên nên việc biên soạn sách giáo khoa (SGK) Sinh học ở cấp trung học phổ thông (THPT) hiện nay có nhiều cải tiến đáng kể không chỉ về nội dung kiến thức mà có sự cải tiến về số lượng và chất lượng kênh hình. Ngoài ra qua hệ thống Internet, giáo viên và học sinh cũng được tiếp xúc với nhiều kênh hình sinh động, phong phú. Tuy nhiên, kênh hình SGK vẫn là phương tiện bám sát chương trình học nhất, gần nhất với mọi đối tượng học sinh, đặc biệt học sinh ở khu vực miền núi, bởi điều kiện học tập của các em còn hết sức khó khăn, ngôn ngữ thì có nhiều bất đồng do học sinh chủ yếu là dân tộc thiểu số Mường, Thái, Mông... tiếng Việt còn nghèo, tâm lí ngại đọc có ở đại bộ phận học sinh nơi đây. Hơn nữa trong thực tiễn giảng dạy, đa số giáo viên mới dừng lại ở việc sử dụng kênh hình để minh họa, củng cố kiến thức. Còn việc tổ chức các hoạt động nhận thức, rèn luyện các kĩ năng khai thác cho học sinh thì giáo viên chưa quan tâm nhiều. Vì vậy, kênh hình SGK chưa được khai thác hết giá trị của nó. Là một giáo viên dạy môn sinh học ở trường THPT Quan Hóa – một huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, trực tiếp giảng dạy chủ yếu khối 11, tôi luôn trăn trở làm sao để nâng cao chất lượng dạy học, làm sao để học sinh yêu thích môn sinh học, làm sao để có thể phát triển kĩ năng tự học cho học sinh miền núi. Và qua thực tiễn tôi thấy rằng, khai thác sử dụng triệt để hình ảnh SGK là biện pháp phù hợp không chỉ tác động tốt trong việc tạo biểu tượng, hình thành kiến thức khái niệm, quy luật mà còn có ý nghĩa giáo dục, hình thành kĩ năng tự học cho HS miền núi. 
Từ tầm quan trọng của việc khai thác kênh hình trong dạy học Sinh học, với kinh nghiệm giảng dạy bộ môn sinh học và với kết quả thực nghiệm, tôi xin trình bày đề tài: “Rèn luyện cho học sinh miền núi kĩ năng khai thác kênh hình trong SGK sinh học 11, THPT”. Với đề tài này, tôi mong rằng sẽ góp phần đổi mới phương pháp giúp việc dạy và học bộ môn sinh học có hiệu quả.
1.2. Mục đích nghiên cứu 
Xác định những biện pháp rèn luyện có hiệu quả nhằm phát triển kĩ năng khai thác kênh hình trong SGK sinh học 11 cho học sinh miền núi.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp để phát triển kĩ năng khai thác kênh hình SGK 
- Học sinh trường THPT Quan Hóa
- Kênh hình SGK Sinh học 11
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, bao gồm: SGK Sinh học 11, sách phương pháp giảng dạy Sinh học dành cho giáo viên, giáo trình, luận văn, sách tham khảo, tạp chí và các website làm cơ sở khoa học cho đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra cơ bản
PP điều tra: Điều tra bằng cách trao đổi, dự giờ và phỏng vấn GV, HS.
Nội dung điều tra: Điều tra thực trạng sử dụng kênh hình SGK trong dạy học sinh học và việc rèn luyện cho HS kĩ năng khai thác kênh hình SGK. 
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
	Tiến hành thực nghiệm ở trường THPT Quan Hóa
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Kênh hình và vai trò của kênh hình
Kênh hình bao gồm các hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ..., là một dụng cụ trực quan hóa vô cùng hữu hiệu trong việc giảng dạy, giúp học sinh vận dụng tối đa các giác quan còn lại trong việc học tập, vì thế nó có những vai trò vô cùng quan trọng:
- Kênh hình là có khả năng cung cấp thông tin một cách đầy đủ hơn khi sách giáo khoa (SGK) chưa trình bày đến nó.
- Giúp giáo viên tăng năng suất làm việc, giảm thiểu tính chất giảng dạy mang tính thông báo một chiều. 
- Học sinh dễ tiếp thu trong quá trình nhận thức, hỗ trợ việc cung cấp kiến thức, giảm tính trừu tượng của kiến thức.
- Cải tiến phương pháp dạy học của giáo viên và thay đổi hình thức học của học sinh theo hướng tích cực.
- Kênh hình có tác dụng minh hoạ cho các khái niệm, quá trình. Nó hỗ trợ và phát huy mọi giác quan của người học. Tăng độ tin cậy và khắc sâu kiến thức.
- Giúp đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Từ những vai trò đó có thể thấy được việc khai thác sử dụng kênh hình là biện pháp tốt để rèn luyện kĩ năng, năng lực cho HS. Đồng thời, theo quy chế thiết bị giáo dục, ban hành theo quyết định số 41/2000/QĐ -BGD&ĐT ngày 24/3/2000 của Bộ giáo dục và Đào tạo “Thiết bị giáo dục phải được sử dụng có hiệu quả cao nhất, đáp ứng các yêu cầu nội dung và phương pháp được qui định trong chương trình giáo dục” (Điều 102). Theo quy định trên, việc sử dụng thiết bị giáo dục, đặc biệt là kênh hình trong dạy học là điều hết sức cần thiết, phải tổ chức khai thác đúng phương pháp, đem lại hiệu quả cao nhất. 
Đối với bộ môn sinh học, học tập sinh học là quá trình nhận thức về sự sống của sự vật hiện tượng, cái bản chất bên trong mang tính quy luật. Vì vậy nhiệm vụ đầu tiên của người giảng dạy sinh học là cho học sinh tiếp xúc, quan sát những hình ảnh cụ thể sinh động, chính xác về các sự vật, hiện tượng nhằm tạo ra ở học sinh những biểu tượng, niềm yêu thích nghiên cứu khoa học.
2.1.2. Đặc điểm của HS khu vực miền núi
	Qua quá trình tìm hiểu và thực tế dạy học ở trường THPT Quan Hóa – Thanh Hóa, tôi có thể tóm tắt về một số đặc điểm của HS THPT miền núi như sau:
- Về điều kiện kinh tế xã hội: Đa phần HS là nông thôn thu nhập thấp, kinh tế không ổn định, dân cư sống ở những vùng có địa hình khó khăn, sống xa nhau, xa trường. Điều kiện phương tiện thiếu thốn nên đi lại khó khăn, gây cản trở không ít đến việc học tập của các em.
- Về ngôn ngữ tiếng Việt: Do đa phần HS là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh sống khó khăn, ít được tiếp xúc với phương tiện dạy học hiện đại nên ngôn ngữ tiếng việt còn nghèo, nhiều khi trong lớp các em còn giao tiếp bằng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, kĩ năng đọc, viết, diễn đạt câu, phát âm các thuật ngữ khoa học nhiều khi chưa chính xác.
- Về khả năng tư duy của HS: Thường tư duy chậm, khi gặp tình huống phức tạp thường bối rối không nhanh chóng tìm ra phương án, khả năng tư duy trừu tượng, tư duy logic biện chứng chưa cao. Các em thường xem xét sự vật hiện tượng trong mối quan hệ riêng lẻ, đơn giản. Các em quen tư duy cụ thể, bắt chước, dập khuôn nên gặp bài khó, phức tạp không tích cực suy nghĩ mà chờ sự hướng dẫn của giáo viên.
	Khả nặng vận dụng, liên hệ thực tế còn hạn chế, khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh còn yếu
- Về nhân cách trong giao tiếp: Các em sống hồn nhiên, vô tư, có tình cảm yêu ghét rõ ràng. Lòng tự trọng cao, bản tính thật thà và có trách nhiệm trong công việc. Nhưng còn rụt rè, ít nói và lòng tự ti dân tộc cao.
Chính vì vậy, rèn luyện cho HS khu vực miền núi kĩ năng khai thác kênh hình là biện pháp phù hợp, có thể mang lại hiệu quả cao trong học tập. 
2.1.3. Nguyên tắc sử dụng và khai thác kênh hình
Để khai thác triệt để “công lực” của kênh hình, giáo viên phải nắm được một số nguyên tắc có tính bắt buộc sau:
- Nguyên tắc sử dụng đúng lúc: Sự xuất hiện đúng lúc làm tăng thêm thế mạnh của kênh hình, nhất là trong sự háo hức chờ đợi của HS. Yếu tố bất ngờ khi kênh hình xuất hiện càng kích thích tính hấp dẫn và hứng thú từ người xem. Nếu cho các em xem trước thì dễ nhàm chán và phân tán sự chú ý của cả lớp. 
- Nguyên tắc sử dụng đúng chỗ: Tìm vị trí để giới thiệu phương tiện trực quan một cách hợp lý nhất. Có như vậy HS mới huy động được nhiều giác quan nhất, dù ngồi ở mọi vị trí trong lớp ai cũng có thể tiếp xúc phương tiện một cách rõ ràng và đồng đều. 
- Nguyên tắc sử dụng đủ cường độ: Chúng ta cần nhớ, hiệu quả của kênh hình sẽ giảm sút nếu kéo dài việc sử dụng một loại phương tiện hoặc hình ảnh cứ lặp đi lặp lại một cách đơn điệu.
- Nguyên tắc khai thác triệt để: kênh hình phải được khai thác về mọi mặt, mọi khía cạnh, không chỉ sử dụng để minh họa, mà cần được khai thác để HS hiểu về bản chất, nắm vững các quy luật, ý nghĩa giáo dục
Sử dụng và khai thác kênh hình với phương pháp phù hợp, đảm bảo các nguyên tắc giúp thế hệ trẻ tiếp nhận những tri thức quý báu của loài người, qua đó góp phần bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, phát triển tư duy, giáo dục tư tưởng đạo đức cho các em.
2.2. Thực trạng việc sử dụng kênh hình và việc rèn luyện cho HS kĩ năng tự khai thác kênh hình trong SGK sinh học 
Kênh hình được sử dụng trong dạy học sinh học ở bậc THPT hiện nay là rất đa dạng và phong phú. Tập tranh ảnh sinh học từ lớp 10 đến lớp 12 đã được phân bổ đầy đủ cho các trường. Qua hệ thống Internet, GV có thể lấy đuợc nhiều kênh hình phục vụ cho việc giảng dạy. Riêng SGK sinh học 11 cơ bản có 48 bài thì đã có 121 kênh hình đuợc đưa vào, bình quân mỗi bài gần 3 kênh hình. Thực tiễn trên đã đóng góp rất lớn đến việc thành công trong dạy học sinh học hiện nay. Cha ông ta từng dạy: “Trăm nghe không bằng một thấy”. Nếu chúng ta giúp cho HS có được kĩ năng khai thác tốt kênh hình thì hiệu quả học tập sinh học của các em sẽ đạt kết quả cao. 
Bằng thực nghiệm quan sát, trao đổi, lấy ý kiến từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy, bên cạnh những thành công trong việc tổ chức cho HS khai thác kênh hình, còn có những tồn tại và nguyên nhân, cần khắc phục như sau:
- Với HS: Kĩ năng tự khai thác kênh hình trong học tập sinh học ở học sinh còn rất yếu, bước vào lớp 11 mà nhiều em không biết dựa vào đâu để xác định chủ đề của kênh hình, không biết cách đứng thuyết trình kênh hình trên bảng, kĩ năng quan sát, nhận xét.... đều rất yếu.
Thái độ làm việc của học sinh với kênh hình còn hết sức tiêu cực, quan sát qua loa đại khái, không rèn luyện kĩ năng, nhiều em chỉ thích xem trong kênh hình có gì đẹp, lạ hay không mà không chú ý đến chủ đề, nội dung, ý nghĩa của kênh hình.
- Với GV: 
+ Thực trạng: Trong giảng dạy, đa số GV mới dừng lại ở việc sử dụng kênh hình để minh họa, củng cố kiến thức. Còn việc tổ chức các hoạt động nhận thức, rèn luyện các kĩ năng khai thác cho HS thì giáo viên chưa quan tâm nhiều. Đôi khi do thời gian học hạn chế, nhiều giáo viên còn bỏ qua ngay cả các tranh ảnh trong SGK. Vì vậy chưa phát huy được vai trò tích cực của kênh hình vào dạy học bộ môn.
+ Nguyên nhân: Một số GV mới chỉ chú ý kênh chữ trong SGK và coi đây là nguồn cung cấp kiến thức duy nhất trong dạy học Sinh học mà chưa thấy rằng kênh hình không chỉ là nguồn cung cấp kiến thức quan trọng, cung cấp lượng thông tin đáng kể mà còn là phương tiện trực quan có giá trị giúp bài học thêm sinh động, hấp dẫn. Còn không ít GV chưa hiểu rõ xuất xứ, nội dung, ý nghĩa của kênh hình SGK. Trong các đợt bồi dưỡng chuyên đề GV hầu như chỉ được giải thích về nội dung chương trình, chưa chú trọng bồi dưỡng khai thác, sử dụng kênh hình SGK trong khi lượng kênh hình SGK hiện hành tăng lên đáng kể so với SGK cũ. Nhiều GV nhận thức đầy đủ giá trị, nội dung của kênh hình nhưng lại ngại sử dụng và sợ mất thời gian hoặc nếu sử dụng vẫn mang hình thức minh họa. Việc khai thác triệt để kênh hình SGK chưa được chú trọng. 
2.3. Các biện pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1. Các loại kênh hình trong SGK
* Hình ảnh: SGK sinh học 11 có chủ yếu là các hình vẽ cung cấp những hiểu biết về nội dung kiến thức: khái niệm, bản chất, cơ chế, giá trị của kiến thức... 
* Sơ đồ: Cụ thể hoá nội dung kiến thức bằng hình học đơn giản. Ví dụ như sơ đồ 6.1. Sự phụ thuộc về mặt dinh dưỡng của cây vào hoạt động sống của vi sinh vật đất – SGK Sinh học 11.
* Biểu đồ: Kênh hình diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của sự vật hiện tượng, thường biểu diễn trên trục hoành và trục tung. Ví dụ như hình 10.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quang hợp – SGK Sinh học 11.
Qua nghiên cứu, bản thân đã thực hiện các biện pháp sau để rèn luyện kĩ năng khai thác kênh hình cho HS miền núi.
2.3.2. Một số lưu ý khi tổ chức khai thác kênh hình
- Căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục để lựa chọn và khai thác 
- Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng kênh hình (không chỉ cụ thể hóa kiến thức mà cần đi sâu phân tích bản chất, cơ sở, giá trị của nội dung kiến thức)
- Đảm bảo kết hợp lời nói với việc sử dụng kênh hình, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của học sinh (vẽ hình, miêu tả...)
2.3.3. Biện pháp thực hiện đúng quy trình tổ chức khai thác kênh hình trong giảng dạy môn sinh học
Việc rèn luyện kĩ năng khai thác kênh hình cho học sinh là một quá trình, nó phải được tiến hành một cách thường xuyên trong suốt các tiết học, các lớp học ở bậc THPT theo một một hệ thống từ thấp đến cao. Do đó, nó phải đuợc tiến hành đồng bộ ở tất cả các thầy cô giáo cùng bộ môn trong trường. Những kĩ năng cơ bản nhất trong khai thác kênh hình mà học sinh lớp 11 không thực hiện được là do không có sự rèn luyện ở các lớp dưới. Thực tế trên sẽ là sự trở ngại không nhỏ cho giáo viên phát triển những kĩ năng cao hơn trong khai thác kênh hình cho học sinh. Để khắc phục, cần đúng quy định các bước tổ chức khai thác kênh hình mà tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III (2004 - 2007) đã hướng dẫn, cụ thể qua khai thác kênh hình, GV cần chú ý rèn luyện cho học sinh những kĩ năng:
- Kĩ năng quan sát, nhận xét
- Kĩ năng mô tả, tường thuật
- Kĩ năng phân tích, nhận định đánh giá
Để rèn luyện được các kĩ năng đó, trong việc tổ chức khai thác kênh hình, giáo viên tiến hành các bước sau: 
- Thứ nhất, trước khi hướng dẫn HS khai thác kênh hình, tìm hiểu kênh hình, GV phải là người đã nắm kĩ, GV đã tìm hiểu, nắm vững nội dung của kênh hình đó bằng việc đọc sách tham khảo, báo, mạng...
- Thứ hai, để chuẩn bị cho một giờ học mỗi GV yêu cầu HS đọc trước bài ở nhà, quan sát kênh hình trong bài học đó.
- Thứ ba, khi giảng dạy GV yêu cầu 
B1: Học sinh tiếp cận hệ thống kênh hình.
B2: Xác định khái quát nội dung kênh hình (chủ đề kênh hình)
B3: GV có thể giải thích các chú thích và đưa ra những câu hỏi gợi ý để học sinh có cơ sở khai thác, thảo luận kiến thức từ kênh hình.
Câu hỏi để phát triển kĩ năng cho học sinh phải đi theo trình tự: Phát hiện, nhận biết → nhận xét, so sánh, đánh giá → rút ra bài học.
B4: Tổ chức cho học sinh trả lời câu hỏi trên cơ sở các em tự phát hiện kiến thức mới.
B5: GV nhận xét, bổ sung, hoàn thiện nội dung và đi đến kết luận. Đồng thời qua nghiên cứu, tìm hiểu kênh hình sẽ dễ dàng giáo dục sức khỏe, tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh.
2.3.4. Củng cố cho học sinh những kĩ năng cơ bản, thiết yếu trong khai thác kênh hình 
* Kĩ năng đọc:
Muốn HS khai thác được kênh hình thì việc đầu tiên là GV phải rèn luyện cho HS kĩ năng đọc kênh hình. Nguyên tắc chung của việc đọc kênh hình là:
+ Đọc tên kênh hình
+ Đọc bản chú giải và xác định những kí hiệu tương ứng trên kênh hình
* Kĩ năng mô tả, thuyết trình kênh hình: 
 - Cách đứng: đứng thuyết trình bên trái, dùng tay phải để chỉ.
 - Cách mô tả: chỉ từ gốc tới ngọn, xác định kí hiệu, nội dung trọng tâm, các mối liên hệ giữa các kí hiệu trọng tâm đó
 	Để HS hình thành được những kĩ năng trên, bản thân đã tiến hành các công việc sau:
- Bước 1: Hướng dẫn HS nắm được những yêu cầu trên.
- Bước 2: GV thực hiện mẫu trên lớp và luôn luôn tuân thủ đúng những nguyên tắc, một số lưu ý trên khi thực hiện khai thác kênh hình trên lớp.
- Bước 3: Tổ chức cho HS thực hiện trên lớp. Công việc này được GV tiến hành kiểm tra nhắc nhở thường xuyên trên lớp để hình thành, để phát triển kĩ năng cho HS.
 Kết quả, qua một thời gian hướng dẫn, nhắc nhở, kiểm tra, đa số HS đã thực hiện được kĩ năng cơ bản, thiết yếu trong khai thác kênh hình.
2.3.5. Rèn luyện cho HS kĩ năng khai thác hình ảnh
	Hình ảnh trong SGK sinh học chiếm số lượng lớn, là một phần của đồ dùng trực quan trong dạy học, nó có ý nghĩa hết sức to lớn không chỉ là phương tiện trực quan giúp bài học thêm hấp dẫn, sinh động mà còn là nguồn cung cấp kiến thức quan trọng, giáo dục tư tưởng, tình cảm, tư duy ở HS.
	Hiện nay, HS rất thích xem tranh ảnh nhưng lại không biết khai thác phục vụ cho bài học. Vì vậy, việc rèn luyện kĩ năng khai thác triệt để tranh ảnh SGK cho học sinh cần phải được giáo viên thường xuyên hướng dẫn.
Khi hướng dẫn, GV cần giúp HS không chỉ biết chỉ, biết miêu tả bề ngoài của kênh hình mà quan trọng hơn là phải biết khai thác nội dung bên trong. Thường thì GV sẽ giới thiệu tên tranh, hình vẽ, yêu cầu HS quan sát và sau đó đưa ra những câu hỏi gợi ý giúp học sinh tập trung suy nghĩ về hình ảnh đó theo những cách khác nhau. Để thúc đẩy sự quan sát sâu của học sinh, bản thân đưa ra một số gợi ý: hình ảnh này mang chủ đề gì? Thu nhận, phân tích, đánh giá được những thông tin gì từ hình ảnh đó? Em có so sánh và liên hệ gì? Thông qua hình ảnh đó em có thể dự đoán gì? Bày tỏ thái độ gì trước mỗi hình ảnh? Miêu tả và nhận xét bằng ngôn ngữ riêng của mình?
Hình ảnh này có chủ đề là gì?
Hình ảnh
Liên hệ 
Vận dụng
Em thu nhận được những thông tin gì qua hình ảnh đó?
Em có cảm nhận và bày tỏ gì?
Cụ thể:
Ví dụ khi khai thác hình 38.2. Hậu quả tác động của hoocmon sinh trưởng, SGK sinh học 11 cơ bản, trang 153 để dạy bài 38 các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở động vật 
Đối với kênh hình này khi khai thác GV cần: 
- Hướng dẫn HS quan sát và sử dụng các câu hỏi gợi mở như bức tranh nói lên điều gì?, nhìn vào bức tranh em có nhận xét gì?, tại sao lại có người nhỏ bé, người bình thường và người khổng lồ?, điều đó có ảnh hưởng gì không?, qua hình ảnh đó em thấy cần làm gì nếu gặp những người như vậy?...
- HS tự nhận xét và đưa ra phương án trả lời
- GV kết luận: 
+ Nhận biết: Hình này nói về 3 kiểu người (người nhỏ bé, người khổng lồ và người bình thường) hình thành do tác động của hoocmoon sinh trưởng.
+ Phân tích nguyên nhân: người bình thường do tuyến yên tiết ra lượng hoocmôn sinh trưởng vừa phải vào giai đoạn trẻ em, người bé nhỏ do tuyến yên tiết ra lượng hoocmôn sinh trưởng quá ít vào giai đoạn trẻ em, người khổng lồ do tuyến yên tiết ra lượng hoocmôn sinh trưởng quá nhiều vào giai đoạn trẻ em. Lí do là khi lượng hoocmôn được tiết ra quá nhiều vào giai đoạn trẻ em dẫn đến tăng cường quá trình phân chia tế bào, tăng số lượng tế bào và tăng kích thước tế bào (qua tăng tổng hợp prôtêin và tăng cường phát triển xương).
+ Ý nghĩa/bài học: thấy được quá trình sinh trưởng diễn ra mạnh ở giai đoạn trẻ em. Vì vậy cần đặc biệt chú ý đến sự phát triển của trẻ, đảm bảo cho trẻ phát triển bình thường. Trường hợp người k

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_ren_luyen_cho_hoc_sinh_mien_nui_ki_nang_khai_thac_kenh.doc