SKKN Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh ở trườngTHPT Quảng xương 4 thông qua việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình các em

SKKN Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh ở trườngTHPT Quảng xương 4 thông qua việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình các em

Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí minh từng nói: “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Lời dạy của Người đã giúp cho người làm công tác giáo dục xác định được tầm quan trọng của việc trồng người trong sự nghiệp giáo dục, với mục tiêu đào tạo ra những công dân tốt cho đất nước. Để đào tạo được những công dân tốt trong tương lai, người làm giáo dục phải biết kết hợp chặt chẽ giữa dạy kiến thức với dạy người, giữa truyền thụ tinh hoa tri thức nhân loại với những giá trị truyền thống của dân tộc, giữa giáo dục tri thức khoa học với giáo dục đạo đức. Chiến lược Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2010-2020 xác định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Hiện nay, do sự tác động và ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường làm cho đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng. Hiện tượng học sinh vô lễ với thầy giáo, cô giáo và những người sinh thành, dưỡng dục mình; học sinh tụ tập thành băng nhóm quậy phá, ăn chơi, đánh nhau, thậm chí lâm vào nghiện hút, sinh hoạt bầy đàn không còn hiếm. Nguyên nhân của những hiện tượng trên có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là gần gũi, giáo dục của bố mẹ học sinh chưa được nhiều, sự tác động của xã hội; nội dung, phương pháp, sự quan tâm GDĐĐ cho học sinh của nhà trường còn gặp nhiều hạn chế, bất cập.

 

doc 22 trang thuychi01 15/06/2020 80
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh ở trườngTHPT Quảng xương 4 thông qua việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình các em", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
A. Lý do chọn đề tài	 
B . Nội dung nghiên cứu.
I. Cơ sở lí luận của đề tài. 	.
1. Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ................................................................................................................
2. Ý nghĩa của việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh trong giáo dục đạo đức..................................................................................................................
II. Thực trạng của vấn đề 	 
III. Giải pháp và cách tổ chức thực hiện 	
IV. Hiệu quả đạt được.	
C. Kết luận và đề xuất 	
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Giáo dục đạo đức học sinh GDĐĐHS
Giáo viên : GV
Học sinh : HS 
Phương pháp : PP
Trung học phổ thông : THPT
Giáo viên chủ nhiệm : GVCN 
Cán bộ giáo viên: CBGV
A. PHẦN MỞ ĐẦU
 I. Lý do chọn đề tài:
Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí minh từng nói: “ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Lời dạy của Người đã giúp cho người làm công tác giáo dục xác định được tầm quan trọng của việc trồng người trong sự nghiệp giáo dục, với mục tiêu đào tạo ra những công dân tốt cho đất nước. Để đào tạo được những công dân tốt trong tương lai, người làm giáo dục phải biết kết hợp chặt chẽ giữa dạy kiến thức với dạy người, giữa truyền thụ tinh hoa tri thức nhân loại với những giá trị truyền thống của dân tộc, giữa giáo dục tri thức khoa học với giáo dục đạo đức. Chiến lược Giáo dục Việt Nam giai đoạn 2010-2020 xác định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. 
Hiện nay, do sự tác động và ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường làm cho đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng. Hiện tượng học sinh vô lễ với thầy giáo, cô giáo và những người sinh thành, dưỡng dục mình; học sinh tụ tập thành băng nhóm quậy phá, ăn chơi, đánh nhau, thậm chí lâm vào nghiện hút, sinh hoạt bầy đàn không còn hiếm. Nguyên nhân của những hiện tượng trên có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là gần gũi, giáo dục của bố mẹ học sinh chưa được nhiều, sự tác động của xã hội; nội dung, phương pháp, sự quan tâm GDĐĐ cho học sinh của nhà trường còn gặp nhiều hạn chế, bất cập.
Trường trung học phổ thông Quảng xương 4 là trường đóng trên địa bàn xã Quảng Lợi, huyện Quảng Xương. Đây là vùng thuộc diện khó khăn, được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại quyết định số 539 về hệ thống các xã, huyện vùng bãi ngang ven biển, học sinh nhà trường tuyển sinh chính gồm 05 xã (Lộc, Thái, Lợi, Nham, Thạch), phần nhiều là con em thuộc các gia đình hưởng chính sách của các xã thuộc vùng bãi ngang ven biển ( 04 xã). Chính địa bàn tuyển sinh đã đặt ra nhiều vấn đề mang tính cấp thiết cho đội ngũ CBQL và Giáo viên, nhân viên nhà trường phải luôn trăn trở trong đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như luôn phải tìm các giải pháp phù hợp, thiết thực để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh. 
Là người nhiều năm liền phụ trách công tác nền nếp học sinh, tôi thiết nghĩ để nâng cao được chất lượng thực sự của công tác giáo dục học sinh thì không chỉ tập trung tuyên truyền vận động, phổ biến điều lệ, quyền và nghĩa vụ của người học mà cần tiến hành đồng bộ các giải pháp khác và một trong số những giải pháp hữu hiệu là người giáo viên cần phải đi sâu, đi sát, phải gần gũi, tích cực tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh gia đình các em học sinh để từ đó tìm ra cho mình một cách thức, con đường giáo dục nâng cao chất lượng học sinh thực sự có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm vùng miền, hoàn cảnh xuất thân của học sinh .Vậy vấn đề đặt ra ở đây là tôi muốn cùng đồng nghiệp xa gần trao đổi về việc vận dụng tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh và vận dụng như thế nào cho có hiệu quả trong giáo dục đạo đức học sinh của nhà trường. Để góp một phần nhỏ cho việc nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp nâng cao chất lượng đạo đức học sinh, tôi mạnh dạn bàn về vấn đề này với đề tài “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh ở trườngTHPT Quảng xương 4 thông qua việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình các em”. Với suy nghĩ và kinh nghiệm cùng những hiểu biết của mình, tôi mong rằng nó sẽ đóng góp phần nhỏ vào phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, đặc biệt cùng đồng nghiệp đem lại một kết quả tốt nhất cho công tác giáo dục đạo dức học sinh của nhà trường trong giai đoạn trước mắt cũng như về lâu dài. 
 II. Mục đích nghiên cứu:
 Khi xây dựng đề tài này, bằng suy nghĩ, nhận thức và kinh nghiệm của bản thân, tôi muốn làm rõ thêm những vấn đề trong việc giáo dục nâng cao chất lượng đạo đức học sinh bằng việc tập trung tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh cũng như cách thức tiến hành trong quá trình làm giáo dục. Cũng trong đề tài này, qua việc dẫn ra những việc làm cụ thể, tôi muốn nhấn mạnh hơn yêu cầu, tính cấp thiết và tác dụng của việc quan tâm, tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh- một giải pháp, một cầu nối hữu hiệu giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong nâng cao chất lượng của công tác giáo dục ĐĐHS.
III. Đối tượng nghiên cứu:
 Với đề tài này, tôi muốn tập trung làm rõ thực trạng và những giải pháp cụ thể đã triển khai để đạt được hiệu quả cao trong công tác giáo dục đạo đức học sinh tại nhà trường bằng việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh. 
IV. Phương pháp nghiên cứu: Với đề tài này, tôi tập trung vào việc phân tích, so sánh, liên hệ dựa trên các yếu tố sau:
 Qua kiến thức về vấn đề đổi mới trong công tác giảng dạy, tổ chức các hoạt động giáo dục hiện nay mà nhà trường và bản thân đã và đang áp dụng.
 Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo.
Tham khảo ý kiến của ban chuyên môn và đồng nghiệp.
Qua kiểm tra và thu nhận ý kiến của học sinh, phụ huynh HS tôi trực tiếp tổ chức tìm hiểu.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
I. Cơ sở lí luận của đề tài.
1. Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh .
Từ xưa, ông cha ta đã đúc kết một cách sâu sắc kinh nghiệm về giáo dục  “Tiên học lễ, hậu học văn “, “Lễ” ở đây chính là nền tảng của sự lĩnh hội và phát triển tốt các tri thức và kỹ năng. Ngày nay, phương châm  “Dạy người, dạy chữ, dạy nghề“ cũng thể hiện rõ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục đạo đức, như Bác Hồ đã dạy: “Dạy cũng như học, phải chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc quan trọng. Nếu thiếu đạo đức, con người sẽ không phải là con người bình thường và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường, ổn định...”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài không có đức chỉ là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó “. Đảng ta đã chủ trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học...”. Bởi vậy, tu dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân cách, vừa có đức vừa có tài là hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu của thanh niên, học sinh.
1.1. Giới thuyết chung về đạo đức.
- Khái niệm đạo đức:
Theo cách hiểu chung nhất, được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng và được thế giới thừa nhận “Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống. Nhờ đó con người điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội”. 
Khái niệm “Đạo đức” chỉ ra nội hàm, gồm:
Thứ nhất, Đạo đức là thuộc tính của con người và chỉ con người mới có thuộc tính đạo đức, loài vật không thể được xem là có đạo đức, mặc dù có thể có những loài vật sống thành bầy đàn và có tính tổ chức rất cao mà trong thực tế chúng ta vẫn thấy. Đạo đức là một hiện tượng lịch sử, là sự phản ánh của các quan hệ xã hội. 
Thứ hai, Đạo đức được xem là luân thường đạo lý của con người. Nói đến luân thường đạo lý là đề cập đến sự ứng xử của con người. Sự ứng xử đó thuộc về những vấn đề tốt - xấu, hay - dở, phải - trái. Đây được xem là là các chuẩn mực trong quan hệ con người với nhau, là phép ứng xử đúng - sai. Đạo đức được sử dụng trong các phạm trù: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức con người, giá trị đạo đức con người. Đạo đức gắn với nền văn hóa, tôn giáo, triết học, luật lệ của một xã hội.
Thứ ba, Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại, quá khứ, tương lai, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức con người phải được xã hội thừa nhận, phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, thuần phong mỹ tục địa phương, phải được số đông người tán thành, ủng hộ 
Không thể tồn tại thứ đạo đức phi văn hóa truyền thống, đi ngược lại thuần phong mỹ tục, vô lương tâm. Những thứ được gọi là “đạo đức” đó sớm muộn cũng bị xã hội phủ định. Bởi lẽ, mọi thời đại đều phê phán, lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội... và biểu dương, ủng hộ cái thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn...
- Khái niệm về giáo dục đạo đức cho học sinh: 
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một mặt của hoạt động giáo dục nhằm xây dựng cho thế hệ trẻ những tính cách nhất định và bồi dưỡng cho họ những quy tắc hành vi thể hiện trong giao tiếp với mọi người, với công việc, với tổ quốc. 
Khái niệm chỉ ra các vấn đề sau:
Thứ nhất, GDĐĐ cần phải được coi trọng đặc biệt, nhất là trong sự nghiệp cách mạng hiện nay của dân tộc, khi Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế, với nhiều nguy cơ và thách thức lớn.
Thứ hai, GDĐĐ cho học sinh là làm cho nhân cách của học sinh phát triển đúng về mặt đạo đức, tạo cơ sở để học sinh ứng xử đúng đắn trong các mối quan hệ của cá nhân với bản thân, với người khác (người thân trong gia đình, bạn bè, thầy cô giáo), với xã hội, với tổ quốc, với môi trường... 
Thứ ba, Các yếu tố ảnh hưởng đến GDĐĐ học sinh, gồm: Gia đình, có thể nói gia đình là trường học đầu tiên về đạo đức, tính cách người, đặc biệt trong đó phải nhấn mạnh vai trò cha mẹ, đó là người thầy đầu tiên của con cái; Nhà trường, với vai trò và chức năng của mình, đóng một vai trò hết sức quan trọng trong GDĐĐ học sinh; Cộng đồng (xã hội) vừa có ảnh hưởng quan trọng, vừa giữ vai trò hỗ trợ tích cực trong GDĐĐ cho các em.
1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức. 
Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN), mỗi một con người, trước hết là đội ngũ cán bộ phải luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng.
Từ quan điểm về vai trò cực kỳ quan trọng của đạo đức, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm vấn đề giáo dục đạo đức. Ngay từ những năm 1920 bài giảng đầu tiên của Người cho lớp thanh niên trí thức yêu nước Việt Nam là “tư cách của một người cách mạng”. Trước khi về cõi vĩnh hằng, Người để lại cho dân tộc ta một tài sản vô cùng quý giá: “Di chúc Hồ Chí Minh”, trong đó Người dành một phần để nói về vấn đề đạo đức, Người dặn: “Đảng phải quan tâm chăm lo GDĐĐ cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên”.
Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”; “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”; “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”; và “Có tài mà không có đức là người vô dụng”.
2. Ý nghĩa của việc tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh trong việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh. 
2.1. Tìm hiểu, quan tâm hoàn cảnh gia đình từng học sinh không chỉ nhằm hướng đến mục tiêu giáo dục đạo đức học sinh mà còn để góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt nam như đã đề cập trong Nghị quyết 29 đối với giáo dục phổ thông: Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể  chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề  nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. 
2.2. Tìm hiểu, quan tâm hoàn cảnh gia đình từng học sinh đã và đang trở thành là nhiệm vụ cấp bách, mang ý nghĩa thiết thực với những người làm công tác giáo dục; Bởi:
- Có làm được điều này mới thấy hết được điều mình đang làm là phần lớn mang đến nhiều cơ hội học tập cho học sinh, nhất là với học sinh trường THPT Quảng xương 4- một địa bàn khó khăn của huyện, tỉnh và cả nước.
- Làm được điều này là tạo được mối gắn kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục học sinh.
- Tạo mối thân thiện, hòa đồng, tiếp thêm động lực cho học sinh vươn lên học tập, rèn luyện tốt, đặc biệt học sinh tránh xa được các tệ nạn xã hội.
- Tìm hiểu, nắm được hoàn cảnh gia đình các em đã góp phần xóa đi những mặc cảm cũng như tâm lý e de, sợ sệt vốn đi ra từ hoàn cảnh gia đình phần đông là con em của gia đình nông dân sống ở vùng nông thôn không có nhiều cơ hội đi đây đó, không có cơ hội giao lưu, tiếp xúc để rèn kĩ năng giao tiếp, tạo sự tự tin cho các em trong quá trình học tập và làm việc.
- Đặc biệt khi chú ý tìm hiểu tâm tư tình cảm, hoàn cảnh gia đình học sinh thì bản thân người GV mới tìm ra giải pháp hữu hiệu, phù hợp để áp dụng trong giáo dục theo phân loại đối tượng học sinh, nhất là với những học sinh nghịch ngợm, học sinh được gọi là cá biệt của lớp, trường. 
Bản thân hoàn cảnh gia đình học sinh nơi địa bàn tuyển sinh của trường THPT Quảng xương 4 hết sức đa dạng nhưng chủ yếu bố mẹ học sinh vẫn đi làm nghề đánh cá và sản xuất nông nghiệp nên từ gia đình đã mang nặng tư tưởng “ an bài’ không có chí tiến thủ, không định hướng cho con cái việc học hành để làm gì, thậm chí ở bố mẹ của những học sinh hay vi phạm kỷ luật còn có suy nghĩ nông cạn hời hợt, phó thác cho nhà trường như cách nói: “ trăm sự nhờ thầy” ; “ Chữ nghĩa văn chương không bằng xương con cá lẹp” hoặc “ Thầy cô cho học thì học không thì thôi”. Điều này đồng nghĩa với việc, GVCN và nhà trường không chỉ áp dụng một cách máy móc, cứng nhắc các quy định của điều lệ trường THPT, áp dụng thông tư 58 trong đánh giá xếp loại học sinh được mà luôn luôn phải có sự xem xét kĩ lưỡng từng nhóm đối tượng gắn với đặc điểm gia đình để có sự vận dụng các phương pháp giáo dục cũng như đánh giá, xếp loại phù hợp với các em.
- Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh đã giúp nhiều CBGV nhà trường nâng cao được ý thức hơn trong giáo dục học sinh, đặc biệt thay đổi được cách nhìn với những học sinh hay sai phạm, bắt buộc người thầy phải luôn trăn trở và đặt ra và trả lời câu hỏi “ Vì sao HS ấy lại hư hỏng?” để từ đó không ngừng tìm tòi những biện pháp giáo dục phù hợp với học sinh.
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm	
Ưu điểm:
- Rất nhiều em học sinh của nhà trường có ý thức tư cách đạo đức tốt làm hạt nhân tốt ở các tập thể học sinh.
- Đa số học sinh nhà trường là con em của những gia đình làm nghề nông, nghề đánh cá nên suy nghĩ còn thuần túy, chăm công việc cùng bố mẹ, không mang nặng tư tưởng đua đòi, ăn chơi.
- Xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế khó khăn, công việc làm lụng vất vả khiến các em cũng mong được đi học và cố gắng học tốt để kiếm nghề nghiệp ổn định, có điều kiện kinh tế tốt hơn và mong được nhàn thân hơn.
- Nhà trường cùng các tổ chức Đoàn thể đã có nhận thức đúng đắn, quan tâm sâu sát tới quyền lợi học sinh nên đã giúp học sinh có thêm động lực cũng như sự tự tin khi tham gia học tập tại nhà trường. 
2. Tồn tại:
 - Một số học sinh có biểu hiện vô lễ với giáo viên bằng cả lời nói và hành vi. Học sinh bỏ học đi chơi ở các quán Intenet, tụ tập để giao du khi kết thúc buổi học, không chịu về nhà, khi được thầy cô nhắc nhở thông báo về gia đình thì tìm mọi cách để gian dối, bao che cho việc làm không tốt của bản thân.
- Tình trạng học sinh gây bạo lực học đường, lôi kéo bè cánh để đánh nhau làm ảnh hưởng an ninh trường học và trật tự nơi công cộng.
- Tình trạng một bộ phận học sinh sống hời hợt, nông cạn, thờ ơ với những gì xảy ra xung quanh, thiếu trách nhiệm với chính mình và mọi người. Biểu hiện rõ nhất ở việc xem thường việc học tập trên lớp cũng như ở nhà, không chịu tham gia các hoạt động từ thiện - nhân đạo, hoạt động tập thể, không có thái độ đồng cảm, chia sẻ với những bạn học có hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. 
3. Nguyên nhân của những tồn tại. 
* Về phía gia đình học sinh:
Nhiều học sinh có bố mẹ đều đi làm ăn xa, giao toàn bộ nhà cửa, thậm chí cả việc chăm sóc em út trong nhà cho bản thân học sinh( điều này diễn ra nhiều đối với học sinh xã Quảng Thái)
Có gia đình do cha mẹ sống không gương mẫu, cha mẹ ly hôn; hay buông lỏng giáo dục, phó mặc cho xã hội, cho nhà trường“ trăm sự nhờ thầy” 
 * Về phía Nhà trường : 
+ Có lúc, có nơi uy tín người thầy bị sa sút, các giá trị truyền thống “ Tôn sư trọng đạo “ bị nhìn nhận một cách méo mó, vật chất hóa, thực dụng; có trường hợp người thầy không giữ được tư thế đáng kính trọng trong quan hệ thầy trò; tình trạng vi phạm dạy thêm, học thêm đã tác động xấu đến uy tín của người thầy trong suy nghĩ học sinh và không ít phụ huynh.   
 + Đôi khi trong giao tiếp còn có biểu hiện không tôn trọng học sinh.
 + Một số ít CBGV còn chú trọng việc dạy chữ nhiều hơn việc dạy người.
 * Về phía xã hội : 
+ Những hạn chế, tác động xấu từ môi trường của thời kỳ “mở cửa, hội nhập”, những“ tư tưởng văn hoá xấu, ngoại lai”; Sự tác động ở mặt trái của cơ chế thị trường khiến một bộ phận học sinh lung lay về ý chí, khiến đâu đó, còn có những hiện tượng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, thích chạy theo lối sống thực dụng, thậm chí có những hành động phạm pháp. 
+ Các tệ nạn xã hội có nơi, có lúc đã xâm nhập vào trong trường học; làm băng hoại đạo đức, tha hoá nhân cách; gây nỗi đau, sự lo ngại không nhỏ cho các bậc phụ huynh học sinh; làm mai một các giá trị đạo đức truyền thống, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội và nhà trường.
 +  Các thế lực phản động tìm đến giới trẻ để kích động gây rối làm mất trật tự, an ninh xã hội, lợi dụng tìm mọi cách chống phá cách mạng XHCN ở Việt Nam. 
 + Sự tác động không nhỏ của việc mở mang xây dựng khu công nghiệp SôTô, khu du lịch biển Tiên Trang khiến một bộ phận học sinh có suy nghĩ muốn bỏ học đi làm để kiếm tiền.
 + Đặc điểm địa bàn dân cư xuất phát điểm làm nông nghiệp là chủ yếu cùng tư tưởng muốn đi làm ăn xa, thậm chí làm ăn phi pháp mong kiếm được nhiều tiền đã khiến một số bậc phụ huynh không chú ý quan tâm con em cả về vật chất và tinh thần.
 Với những vấn đề trên, tôi thiết nghĩ cũng là thực trạng chung của hầu hết các trường hiện nay. Vì thế, thông qua đề tài này, tôi không những muốn đem đến những thay đổi trong suy nghĩ và hành động cho các đồng nghiệp trong nhà trường mà còn muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè đồng nghiệp gần xa tìm phương pháp, cách thức GDĐĐHS đạt hiệu quả nhất. 
III. Giải pháp và cách tổ chức thực hiện
Thăm nhà, nắm hoàn cảnh gia đình học sinh ngay từ khi học sinh nhập trường theo học. 
Việc làm này không chỉ giúp ích cho công tác giáo dục học sinh mà còn được xem là một chí tiêu cơ bản trong đánh giá xếp loại thi đua của giáo viên chủ nhiệm hàng kỳ và cả năm học.Chính vì vậy, đầu năm học trong xây dựng kế hoạch chủ nhiệm duyệt với Ban giám hiệu, GVCN phải lập chỉ tiêu cho công tác này một cách sát đúng. Cùng với GVCN, tổ chức hội khuyến học, hội chữ thập đỏ nhà trường cũng phải xây dựng kế hoạch về trao học bổng cho HS nghèo vượt khó, kế hoạch cứu tr

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_nang_cao_chat_luong_giao_duc_dao_duc_hoc_sinh_o_truongt.doc