SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong giờ thực hành Tin học 7

SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong giờ thực hành Tin học 7

Trong những năm qua, nền giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa về phát triển quy mô, tạo chuyển biến ban đầu về chất lượng, tăng cường các điều kiện phát triển giáo dục. Việc tìm ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp phát triển sự nghiệp giáo dục đáp ứng yêu cầu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trọng yếu của nhữngngười làm công tác giáo dục hiện nay.

Sự phát triển mạnh mẽ như “vũ bão” của tin học đã làm cho xã hội có nhiều nhận thức mới về cách tổ chức các hoạt động. Nhiều quốc gia trên thế giới ý thức được rất rõ tầm quan trọng của tin học và có những đầu tư lớn cho lĩnh vực này, đặc biệt trong giáo dục nâng cao dân trí về tin học và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Người Việt Nam có nhiều tố chất thích hợp với ngành khoa học này, vì thế chúng ta hi vọng có thể sớm hoà nhập với khu vực và trên thế giới.

Từ năm học 2006 - 2007, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa bộ môn Tin học vào giảng dạy trong trường phổ thông. Bước đầu dưới hình thức môn học tự chọn cho những trường có điều kiện với thời lượng 2 tiết/tuần với tất cả các lớp ở cấp học. Môn học tự chọn (Tin học) ở trường Trung học cơ sở có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về công nghệ thông tin và vai trò của nó trong xã hội hiện đại. Môn học này giúp học sinh bước đầu làm quen với phương pháp giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ và kĩ năng sử dụng máy tính phục vụ học tập và cuộc sống.

Là môn học mới đưa vào trường phổ thông và có những đặc thù riêng liên quan chặt chẽ với sử dụng máy tính, cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ, coi trọng làm việc theo nhóm. Đặc trưng của môn Tin học là kiến thức lí thuyết đi đôi với thực hành, đặc biệt ở lứa tuổi THCS phần thực hành còn chiếm thời lượng nhiều hơn.

 

doc 14 trang thuychi01 24951
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong giờ thực hành Tin học 7", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, nền giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa về phát triển quy mô, tạo chuyển biến ban đầu về chất lượng, tăng cường các điều kiện phát triển giáo dục. Việc tìm ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp phát triển sự nghiệp giáo dục đáp ứng yêu cầu phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ trọng yếu của nhữngngười làm công tác giáo dục hiện nay. 
Sự phát triển mạnh mẽ như “vũ bão” của tin học đã làm cho xã hội có nhiều nhận thức mới về cách tổ chức các hoạt động. Nhiều quốc gia trên thế giới ý thức được rất rõ tầm quan trọng của tin học và có những đầu tư lớn cho lĩnh vực này, đặc biệt trong giáo dục nâng cao dân trí về tin học và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao. Người Việt Nam có nhiều tố chất thích hợp với ngành khoa học này, vì thế chúng ta hi vọng có thể sớm hoà nhập với khu vực và trên thế giới. 
Từ năm học 2006 - 2007, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa bộ môn Tin học vào giảng dạy trong trường phổ thông. Bước đầu dưới hình thức môn học tự chọn cho những trường có điều kiện với thời lượng 2 tiết/tuần với tất cả các lớp ở cấp học. Môn học tự chọn (Tin học) ở trường Trung học cơ sở có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về công nghệ thông tin và vai trò của nó trong xã hội hiện đại. Môn học này giúp học sinh bước đầu làm quen với phương pháp giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ và kĩ năng sử dụng máy tính phục vụ học tập và cuộc sống. 
Là môn học mới đưa vào trường phổ thông và có những đặc thù riêng liên quan chặt chẽ với sử dụng máy tính, cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề theo quy trình công nghệ, coi trọng làm việc theo nhóm. Đặc trưng của môn Tin học là kiến thức lí thuyết đi đôi với thực hành, đặc biệt ở lứa tuổi THCS phần thực hành còn chiếm thời lượng nhiều hơn.
Qua thời gian trực tiếp giảng dạy môn Tin học nói chung, Tin học 7 nói riêng bản thân tôi nhận thấy rằng nhiều học sinh còn yếu về kĩ năng thực hành trên máy. Thậm chí còn có một số học sinh còn ngại thực hiện các thao tác trên máy mà chủ yếu là quan sát các học sinh khác trong nhóm thực hành (học sinh khá -giỏi). Do vậy các tiết thực hành ít khi đạt yêu cầu chất lượng.
Từ thực tế trên, trong quá trình dạy học tôi luôn băn khoăn trăn trở làm thế nào nâng cao chất lượng trong mỗi giờ thực hành giúp các em thành thục các thao tác cơ bản với máy tính, nên trong quá trình giảng dạy tôi luôn chú trọng đến việc hướng dẫn, chia nhóm thực hành sao cho các đối tượng học sinh đều có thời gian tiếp xúc, sử dụng máy nhiều, giúp các em có thể tự khám phá và tự học.
 	Bằng những kinh nghiệm rút ra sau nhiều năm giảng dạy môn Tin học ở trường THCS tôi đưa ra một vài giải giáp nhằm nâng cao chất lượng giờ thực học Tin học cho học sinh khối 7 trong trường THCS.
Tên đề tài: 
 Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong giờ thực hành Tin học 7.
II. Mục đích nghiên cứu:
Chất lượng giáo dục luôn là điều trăn trở đối với các nhà quản lý giáo dục cũng như đối với mỗi giáo viên hiện nay. Việc trang bị hệ thống kiến thức cho học sinh là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm. Trong thời gian qua nghành giáo dục đã và đang thực hiện các biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học. Đăc biệt là nâng cao chất lượng tiết dạy thực hành.
Qua giờ học thực hành Tin học giúp cho học sinh liên hệ giữa kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn. Giúp cho các em tự mình có thể khám phá những điều mình đã học từ đó tạo nên sự hứng thú mỗi khi có tiết thực hành.
Sau khi đã hiểu được ý nghĩa của tiết thực hành thì chắc chắn HS sẽ có ý thức hơn trong các tiết thực hành để rèn luyện kỹ năng, khả năng làm việc với máy tính.
Hình thành cho các em có thái độ học tập nghiêm túc và ý thức vệ sinh sau các tiết thực hành.
III. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và thời gian thực hiện
1 Đối tượng nghiên cứu: 
Học sinh lớp 7 trường THCS Trần Phú – Thành phố Thanh Hóa
2 Phạm vi nghiên cứu:
Chất lượng học tập của học sinh trong giờ thực hành Tin học 7.
2 Thời gian thực hiện
Năm học 2015 – 2016
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Việc biên soạn sách giáo khoa tin học 7 học cùng đi đôi với hành là trọng tâm đổi mới phương pháp dạy học. Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy học và chúng ta có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới hướng tới nền kinh tế tri thức.
Trong vài thập kỷ gần đây, đã có sự bùng nổ về thông tin hay gọi là thời đại thông tin. Cùng với việc sáng tạo ra hệ thống công cụ mới, con người cũng đã tập trung trí tuệ từng bước xây dựng ngành khoa học tương ứng để đáp ứng những yêu cầu khai thác tài nguyên thông tin. Trong bối cảnh đó, ngành Tin học được hình thành và phát triển thành một ngành khoa học độc lập với các nội dung, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu riêng và ngày càng có nhiều ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người.
Tin học được đưa vào nhà trường, vào giáo dục của nước ta nhằm giúp học sinh chúng ta theo kịp với trình độ phát triển của khu vực và thế giới. Đưa Tin học vào nhà trường nói chung và THCS nói riêng là một việc làm cần thiết để các em làm quen và tiếp cận với công nghệ khoa học tiên tiến. 
Hoạt động nhận thức của con người là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Đối với học sinh học tự chọn Tin học này cũng không nằm ngoài với nguyên lý nhận thức đó. Việc dạy tin học trong nhà trường hiện nay đối với nước ta không phải là dễ, vì Tin học nó gắn liền với một công cụ riêng của môn học là máy tính. “Tin học là ngành khoa học nghiên cứu các quá trình có tính chất thuật toán nhằm mô tả biến đổi thông tin. Là khoa học dựa trên máy tính điện tử nghiên cứu cấu trúc, các tính chất chung của thông tin, các quy luật và phương pháp thu thập, lưu trữ, tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin một cách tự động chính xác qua công cụ là máy tính điện tử”. Vậy làm thế nào để cho học sinh dễ hiểu một cách nhanh chóng chính xác và có kĩ năng thực hành là một nhiệm vụ rất quan trọng của người giáo viên dạy Tin học hiện nay.
Bộ môn Tin học có những đặc thù riêng. Đối với học sinh học việc thành thạo về kỹ năng, thao tác thực hành trên máy là rất cần thiết.
2. Cơ sở thực tiễn
Thực tế qua những năm tôi học tập và được trực tiếp giảng dạy bộ môn tin học cũng như qua trao đổi với đồng nghiệp tôi nhận thấy: hầu như mọi học sinh đều rất hứng thú với môn học, được nhà trường tạo mọi điều kiện thuận lợi cả về CSVC trang thiết bị, kế hoạch và con người phục vụ công tác đưa tin học vào nhà trường. Tuy nhiên chất lượng bộ môn qua các năm học chưa cao, đặc biệt là kĩ năng thực hành trên máy của học sinh còn yếu, thậm chí một số học sinh còn rất ngại khi sử dụng máy để rèn luyện các kĩ năng, bởi đây là một môn học mới. Đồng thời do các em phải học nhiều môn học , học thêm nhiều nên các em cũng không có thời gian dành cho thực hành môn tin học ở nhà. Mặc dù điều kiện kinh tế của gia đình học sinh phần lớn đều có máy tính ở nhà tạo, muốn đạt chất lượng cao đòi hỏi các em phải tiếp xúc với máy tính nhiều nhưng thời lượng mỗi tuần chỉ có 2 tiết trên lớp thì các em chưa thể thực hành hết các kiến thức đã học mà nếu có thực hành hết thì sẽ chóng quên.
Bên cạnh đó cũng có những khó khăn phải kể đến đó là phòng thực hành với số lượng máy tính không đủ để đáp ứng số lượng học sinh trong trường cũng như trong một lớp học, trung bình từ 2-3 em/1 máy. Phòng thực hành máy tính lại chưa được trang bị máy chiếu nên việc hướng dẫn thực hành cho học sinh của giáo viên gặp nhiều khó khăn.
Môn Tin học được đưa vào giảng dạy tại trường THCS Trần Phú là môn học tự chọn mặc dù các em rất thích máy tính nhưng chưa ý thức được tầm quan trọng của bộ môn nên chất lượng học tập còn hạn chế. 
Một bộ phận học sinh chưa coi trọng môn học, xem đây là một môn phụ nên chưa có sự đầu tư thời gian cho việc học. Một thực tế khác là ý thức học tập của một số học sinh không cao, không hứng thú trong học tập, lười hoạt động, không tích cực tự giác, ý thức tự học, tự rèn luyện yếu.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐẾ
1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:
Thực tế qua những năm trực tiếp giảng dạy bộ môn cũng như trao đổi với đồng nghiệp tôi nhận thấy: Hầu như học sinh đều rất yêu thích và hứng thú với môn Tin học. Tuy nhiên, chất lượng bộ môn qua các năm học chưa cao, đặc biệt là kĩ năng thực hành trên máy của học sinh còn yếu, thậm chí một số học sinh còn rất ngại khi sử dụng máy tính để rèn luyện kĩ năng.
1.1 Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo địa phương, Chi Bộ, Ban Giám hiệu nhà trường trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học; tạo mọi điều kiện thuận lợi về CSVC trang thiết bị dạy học.
- Giáo viên giảng dạy được đào tạo theo đúng chuyên ngành.
- Phần lớn các em học sinh có ý thức tự học cao, luôn tìm tòi học hỏi những kiến thức mới trong học tập và rất hứng thú với môn Tin học.
1.2. Khó khăn:
- Vẫn còn một số em học sinh tiếp thu kiến thức còn chậm, đặc biệt là kĩ năng thực hành trên máy của học sinh còn yếu, thậm chí một số học sinh còn rất ngại khi sử dụng máy tính để rèn luyện các kĩ năng vì sợ mình gõ chậm và sai. 
- Số lượng học sinh trong một lớp học còn quá đông so với số lượng máy hiện có. Thiết bị chiếu sáng thường bị hư hao, không khí trong phòng máy không thoáng làm cho học sinh không tập trung vào bài giảng ... ảnh hưởng rất lớn trong quá trình giảng dạy và học tập.
- Học sinh trên địa bàn chủ yếu là con em các gia đình công nhân, sự quan tâm của phụ huynh đến việc học tập của con em còn nhiều hạn chế, để các em có máy vi tính ở nhà là rất khó, hầu hết các em chỉ được tiếp xúc, làm quen với máy tính trong giờ học dẫn đến việc sử dụng máy của học sinh còn lúng túng, chất lượng giờ thực hành chưa cao. Một bộ phận học sinh chưa coi trọng môn học, xem đây là một môn phụ nên chưa có sự đầu tư thời gian cho việc học.
2. Thực trạng chất lượng giờ thực hành Tin học 7 hiện nay
 	Nhà trường đã có phòng học bộ môn Tin học trang bị khang trang với 15 máy tính để thực hành. Ban giám hiệu luôn quan tâm đến chất lượng phòng máy, tạo điều kiện để giáo viên giảng dạy tiết thực hành trong phòng Tin học nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
Hiện nay các tiết thực hành Tin học thường bị xem nhẹ, các em học sinh yếu thường xem giờ thực hành trên máy vi tính là giờ nghỉ giải lao, do đó giờ thực hành các em chơi trên máy tính giờ thực hành trên phòng bộ môn là dành cho các học sinh khá giỏi.
          Một vấn đề nữa được đặt ra đó là thái độ học tập của HS, các em rất xem nhẹ tiết thực hành, chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của nó: lơ đãng, lười nhác , đùa giỡn, mất tập trung trong giờ thực hành. Bên cạnh đó ý thức về việc vệ sinh sau các tiết thực hành của HS cũng rất kém. Việc vệ sinh đó giống như một thói quen mà các em phải thực hiện hàng ngày. Thói quen này không tự nhiên có sẵn hay tự phát, mà được hình thành dần dần trong quá trình học tập rèn luyện dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV.
          Vấn đề đặt ra cho giáo viên hiện nay phải cải tiến các tiết dạy thực hành sao cho hiệu quả.
3. Nguyên nhân của thực trạng:
	Nguyên nhân chủ quan: Chính bản thân học sinh và phụ huynh
	Nguyên nhân khách quan: Giáo viên chưa áp dụng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giờ thực hành.
	Do điều kiện phục vụ dạy và học, tài liệu, sách báo cho giáo viên và học sinh tham khảo chưa được phong phú.
	Kỹ năng sử dụng các phương tiện phục vụ dạy học hiện đại của giáo viên còn hạn chế.
	Đa số học sinh coi bộ môn này là môn phụ nên không thích học.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Khảo sát chất lượng học tập bộ môn:
Qua khảo sát chất lượng đầu năm học, tôi thấy giờ thực hành học sinh rất ngại thực hành trên máy, thao tác thực hành chưa chuẩn, đa số chỉ có học sinh khá giỏi thực hành, số còn lại chỉ quan sát, khi giáo viên hỏi và yêu cầu thực hành thì không thực hành được. Vì thế, qua kết quả khảo sát đầu năm học còn thấp.
Kết quả khảo sát đầu năm học 2015-2016 (tiết thực hành)
TT
Lớp
Sĩ số
Kết quả kiểm tra
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
1
7A
32
3
9.4
10
31.3
12
37.5
7
21.8
0
0
2
7B
31
3
9.7
10
32.3
13
41.9
5
16.1
0
0
3
7C
33
5
15.2
12
36.4
12
36.4
4
12.0
0
0
4
7D
33
6
18.2
12
36.4
10
30.3
5
15.1
0
0
Tổng
129
17
13.2
44
34.1
47
36.4
21
16.3
0
0
2. Thiết kế bài dạy thực hành phải phù hợp với nhiều đối tượng học sinh
Công việc thiết kế chu đáo trước một bài dạy và phù hợp với nhiều đối tượng là khâu quan trọng không thể thiếu của một tiết dạy học mà bất kì một giáo viên nào cũng phải biết. “Thiết kế trước bài dạy giúp giáo viên chuẩn bị chu đáo hơn về kiến thức, kĩ năng, phương pháp, tiến trình và tâm thế để đi vào một tiết dạy”. Để thiết kế một bài dạy phù hợp cho nhiều đối tượng học sinh thì tối thiểu nhất phải làm được những việc sau:
- Xác định được mục tiêu trọng tâm của bài học về kiến thức, kĩ năng, thái độ tình cảm. Tìm ra được những kĩ năng cơ bản dành cho học sinh yếu, kém và kiến thức, kĩ năng nâng cao cho học sinh khá giỏi.
- Tham khảo thêm tài liệu để mở rộng và đi sâu hơn vào bài giảng, giúp giáo viên nắm một cách tổng thể, để giải thích cho học sinh khi cần thiết.
- Nắm được ý đồ của sách giáo khoa để xây dựng và thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với tình hình thực tế của đối tượng và trình độ học sinh, điều kiện dạy học. 
- Chuẩn bị tốt phòng thực hành, các thiết bị dạy học.
- Hoàn chỉnh tiến trình của một giờ dạy học với đầy đủ các hoạt động cụ thể.
Nếu thực hiện tốt những việc này xem như giáo viên đã chuẩn bị tốt tâm thế để bước vào giờ dạy và đã thành công bước đầu.
3. Điều hành tổ chức hoạt động của học sinh trên lớp
 Việc thiết kế tốt một bài dạy và phù hợp với từng đối tượng học sinh xem như đã thành công một nửa nhưng đó chỉ là bước khởi đầu cho một tiết dạy còn khâu quyết định thành công chính là ở khâu tổ chức điều khiển các đối tượng học sinh trên lớp.
Trong điều kiện CSVC của trường, với một giờ thực hành, việc quan trọng đầu tiên là chia nhóm thực hành. Với việc cho học sinh thực hành theo nhóm, học sinh có thể trao đổi hỗ trợ lẫn nhau - bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Với số lượng học sinh của lớp, số lượng máy hiện có, giáo viên phải có phương án chia nhóm một cách phù hợp (ở đây tôi chia nhóm đa dạng nhiều đối tượng). Tuy nhiên để việc thực hành theo nhóm có hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn nội dung đưa vào thực hành phù hợp với nhiều đối tượng học sinh.
Cách chia nhóm: Chia nhóm từ 2-3 học sinh/máy. Các nhóm có thể tự cử nhóm trưởng của nhóm mình.
Các bước tiến hành:
- Giáo viên nêu vấn đề, yêu cầu và nội dung thực hành.
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh các kĩ năng thao tác trong bài thực hành, thao tác mẫu cho học sinh quan sát.
- Tổ chức hướng dẫn các nhóm thực hành, gợi mở, khuyến khích học sinh tích cực hoạt động.
- Giáo viên quản lí, giám sát học sinh thực hành theo nhóm :
+ Trong quá trình học sinh thực hành, giáo viên theo dõi quan sát và bổ trợ khi cần.
+ Chỉ rõ những kĩ năng, thao tác nào được dành cho đối tượng học sinh yếu, kém trong các nhóm, những kĩ năng, thao tác nào được dành cho đối tượng học sinh khá, giỏi trong nhóm.
+ Phát hiện các nhóm thực hành không có hiệu quả để uốn nắn điều chỉnh.
+ Luôn có ý thức trách nhiệm trợ giúp, nhưng tránh can thiệp sâu làm hạn chế khả năng độc lập sáng tạo của học sinh.
+ Trong quá trình thực hành, giáo viên có thể đưa ra nhiều cách để thực hiện thao tác giúp các em rèn luyện và nâng cao kĩ năng.
- Giáo viên có thể kiểm tra hiệu quả làm việc của các nhóm bằng cách chỉ định một học sinh trong nhóm thực hiện lại các thao tác đã thực hành. Nếu học sinh được chỉ định không hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm gắn cho các thành viên trong nhóm, đặc biệt là nhóm trưởng. Hoặc cho các nhóm trưởng kiểm tra, đánh giá kết quả thực hành lẫn nhau. Làm được như vậy các em sẽ tự giác và có ý thức hơn trong học tập. Giáo viên nhận xét, bổ sung và tổng kết kiến thức. 
Giáo viên cũng nên có nhận xét ngắn gọn về tình hình làm việc của các nhóm để kịp thời động viên, khuyến khích các nhóm thực hành tốt và rút kinh nghiệm đối với các nhóm chưa thực hành tốt.
Ví dụ: Minh hoạ về thiết kế và điều hành tổ chức các hoạt động của tiết thực hành
Bài thực hành 4: Bảng điểm của lớp em (Tiết 1)
Thiết kế bài học:
a/ Xác định mục tiêu trọng tâm của bài: 
+ Học sinh biết nhập các công thức và hàm vào ô tính.
+ Biết sử dụng một số hàm cơ bản Average, Max, Min.
+ Xác định các kĩ năng, kiến thức các đối tượng học sinh cần đạt: 
++ Đối tượng học sinh yếu, kém: Nhập được công thức để tính điểm trung bình, sử dụng được một số hàm để tính toán ở mức đơn giản.
++ Đối tượng học sinh trung bình: Sử dụng công thức, hàm để tính toán trong bảng tính.
++ Đối tượng học sinh khá-giỏi: Sử dụng thành thạo công thức, hàm để tính toán.
b/ Chuẩn bị phòng máy, thiết bị dạy học (máy tính, máy chiếu), sao chép một số tệp bảng tính của các bài thực hành trước có liên quan đến bài thực hành (tệp “Danh sach lop em”, “So theo doi the luc”).
c/ Thiết kế và điều hành tổ chức hoạt động học tập của học sinh trên lớp.
Hoạt động 1: Lập công thức tính điểm trung bình.
+ Mục tiêu: Học sinh lập được công thức để tính điểm trung bình. Hoạt động theo nhóm, ưu tiên đối tượng học sinh yếu, kém. Sau khi đã phân nhóm thực hành phù hợp, giáo viên tiến hành các bước:
++ Nêu nội dung và các yêu cầu của hoạt động 1.
++ Hướng dẫn học sinh thảo luận theo nhóm với yêu cầu của “Bài tập 1” trước khi bắt tay vào thực hành tính toán bằng các câu hỏi sau:
? Lập công thức tính điểm trung bình như thế nào.
? Các thành phần trong công thức có thể là những đối tượng nào, 
++ Giáo viên thao tác cho các nhóm quan sát, đặc biệt là đối tượng học sinh yếu, kém.
++ Tổ chức hướng dẫn cho các nhóm thực hành: Đối tượng học sinh yếu, kém thao tác nhập công thức để tính điểm trung bình của các bạn trong lớp trong cột “Điểm trung bình”, tính điểm trung bình của cả lớp và ghi vào ô cuối cùng của cột “Điểm trung bình” - Hình 30. Cho học sinh lập từng công thức một để ghi nhớ. Giáo viên quan sát, tuỳ từng trường hợp cụ thể để chỉ dẫn thêm (VD: Sử dụng địa chỉ của các ô thay cho các giá trị cụ thể trong ô, sử dụng địa chỉ của khối,...).
Hình 30. Bảng điểm lớp em.
Đối tượng học sinh khá -giỏi: Thao tác tính điểm trung bình cho các học sinh trong danh sách, tính điểm trung bình của cả lớp. Yêu cầu học sinh phải biết sử dụng địa chỉ của khối trong công thức tính toán. Với đối tượng này giáo viên có thể rút ngắn danh sách học sinh trong trang tính để tránh việc các em mất nhiều thời gian vào việc nhập và chỉnh sửa số liệu trong công thức. Hướng dẫn cho học sinh ghi lại một số kết quả tính bằng công thức để so sánh với việc sử dụng hàm. Giáo viên kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện hoạt động. Chú ý điều chỉnh một số lỗi học sinh hay mắc phải trong quá trình thực hành.
Hoạt động 2: Sử dụng các hàm để tính toán
+ Mục tiêu: Học sinh sử dụng được các hàm AVERAGE, MAX, MIN để tính toán. 
++ Với đối tượng học sinh yếu: Biết sử dụng hàm AVERAGE để tính điểm trung bình, cơ bản sử dụng được các hàm Max, Min để tìm ĐTB cao nhất và ĐTB thấp nhất.
++ Với đối tượng học sinh trung bình: Sử dụng các hàm để tính toán với các tham số.
++ Với đối tượng học sinh khá - giỏi: Sử dụng được các hàm AVERAGE, MAX, MIN để tính toán với phần tham số của hàm đa dạng.
Tổ chức hoạt động:
+ Nêu nội dung và các yêu cầu của hoạt động 2.
+ Hướng dẫn học sinh thảo luận theo nhóm với yêu cầu của bài tập với các câu hỏi sau:
? Sử dụng hàm nào để tính điểm trung bình.
? Để xác định điểm trung bình cao nhất, thấp nhất ta sử dụng những hàm nào
? Các thành phần trong tham số của hàm có thể là những đối tượng nào.
+ Tổ chức hướng dẫn cho các nhóm thực hành: Đối tượng học sinh yếu, kém thao tác sử dụng hàm Average để tính điểm trung bình của các bạn trong lớp trong cột “Điểm trung bình”, tính điểm trung bình của cả lớp và ghi vào ô cuối cùng của cột “Điểm trung bình

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_hoc_tap_cua_hoc_si.doc