SKKN Hình thành kỹ năng giải nhanh bài tập tạp giao bằng phương pháp tính tỉ lệ giao tử

SKKN Hình thành kỹ năng giải nhanh bài tập tạp giao bằng phương pháp tính tỉ lệ giao tử

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của dạy học Sinh học là phát triển tư duy sáng tạo và khả năng phân tích của học sinh, và vì thế việc dạy các bài tập có một vai trò rất lớn trong quá trình hình thành cho học sinh những phẩm chất đó. Để giải quyết tốt các bài tập sinh học ngoài kiến thức về các quy luật di truyền đã được học trong chương trình giáo khoa, học sinh cần phải có khả năng phân tích, nhận dạng từ đó xác định các bước giải đúng đắn đối với mỗi dạng bài tập.

Trong dạy học nói chung và trong dạy học Sinh học nói riêng, bài tập có vai trò định hướng hoạt động tư duy của học sinh, giúp học sinh phát huy tính tích cực, năng lực chủ động sáng tạo trong học tập. Đặc biệt ở những nội dung kiến thức có nhiều mối quan hệ thì việc giải bài tập có thể giúp học sinh mở rộng được kiến thức. Vì vậy kỹ năng giải bài tập có một vai trò rất quan trong trong biện pháp tổ chức hoạt động học tập cho học sinh hiện nay. Học sinh có kỹ năng giải bài tập sẽ rất thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động nhận thức và củng cố mở rộng kiến thức.

Bên cạnh đó việc thi đại học môn sinh theo hình thức trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải có kỷ năng giải nhanh các bài tập, đặc biệt các bài tập về quy luật di truyền.

Vì thế, với kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài: “Hình thành kỹ năng giải nhanh bài tập tạp giao bằng phương pháp tính

doc 18 trang thuychi01 15/06/2020 70
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Hình thành kỹ năng giải nhanh bài tập tạp giao bằng phương pháp tính tỉ lệ giao tử", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lí do chọn đề tài 
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của dạy học Sinh học là phát triển tư duy sáng tạo và khả năng phân tích của học sinh, và vì thế việc dạy các bài tập có một vai trò rất lớn trong quá trình hình thành cho học sinh những phẩm chất đó. Để giải quyết tốt các bài tập sinh học ngoài kiến thức về các quy luật di truyền đã được học trong chương trình giáo khoa, học sinh cần phải có khả năng phân tích, nhận dạng từ đó xác định các bước giải đúng đắn đối với mỗi dạng bài tập.
Trong dạy học nói chung và trong dạy học Sinh học nói riêng, bài tập có vai trò định hướng hoạt động tư duy của học sinh, giúp học sinh phát huy tính tích cực, năng lực chủ động sáng tạo trong học tập. Đặc biệt ở những nội dung kiến thức có nhiều mối quan hệ thì việc giải bài tập có thể giúp học sinh mở rộng được kiến thức. Vì vậy kỹ năng giải bài tập có một vai trò rất quan trong trong biện pháp tổ chức hoạt động học tập cho học sinh hiện nay. Học sinh có kỹ năng giải bài tập sẽ rất thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động nhận thức và củng cố mở rộng kiến thức.
Bên cạnh đó việc thi đại học môn sinh theo hình thức trắc nghiệm đòi hỏi học sinh phải có kỷ năng giải nhanh các bài tập, đặc biệt các bài tập về quy luật di truyền.
Vì thế, với kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài: “Hình thành kỹ năng giải nhanh bài tập tạp giao bằng phương pháp tính tỉ lệ giao tử”
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nhằm nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân và nâng cao chất lượng học tập của học sinh giúp, đặc biệt là những học sinh thi Đại học khối B, từ đó làm cho học sinh yêu thích môn học hơn.Mặt khác thông qua đề tài có thể giúp các đồng nghiệp thêm vài kinh nghiệm trong giảng dạy. 
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nội dung kiến thức ở chương II: Tính quy luật của hiện tượng di truyền trong chương trình chuẩn của Sinh học lớp 12 và được nghiên cứu trên đối tượng học sinh của khối 12. 
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phân tích giảng giải.
- Nghiên cứu tài liệu
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài ngoài kinh nghiệm bản thân, tôi còn học hỏi trao đổi các kinh nghiệm từ các đồng nghiệp.
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận:
2.1.1. Kỹ năng 
 - Quan niệm về kỹ năng 
Theo Trần Bá Hoành (1996), kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo, khéo léo thì sẽ trở thành kỹ xảo. Mỗi kỹ năng chỉ biểu hiện thông qua một nội dung. (Trần Bá Hoành - Kỹ thuật dạy học sinh học - 1996 - NXB Giáo dục).
Vậy kỹ năng không chỉ là kỹ thuật, cách thức hành động mà kỹ năng còn là một biểu hiện của năng lực con người, đòi hỏi con người phải luyện tập theo một quy trình xác định mới hình thành được được kỹ năng đó.
 - Vai trò của kỹ năng 
Kỹ năng là thành tố cấu trúc nên mục tiêu dạy học và cũng là thành tố tạo nên năng lực của người học. Do đó trong dạy học, tùy mục đích mà sử dụng kỹ năng tương ứng. Mặc khác, kiến thức và kỹ năng tuy là hai thành tố nhưng chúng lại thống nhất và tác động lẫn nhau. Nhờ có kiến thức mới hình thành được kỹ năng, có kỹ năng tức là đã vận dụng được kiến thức. Do vậy nắm vững kiến thức là điều kiện để hình thành kỹ năng.
2.1.2. Bài tập 
- Khái niệm về bài tập 
Theo từ điển Tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, thì bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học. (Hoàng Phê - Từ điển Tiếng Việt - 2000).
Bài tập được chia làm hai nhóm : bài tập định tính và bài tập định lượng.
Bài tập định tính là bài tập mà muốn hoàn thành chúng học sinh phải sử dụng tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, cụ thể hóa, nhằm giải quyết vấn đề nhận thức.
Bài tập định lượng là dạng bài tập mà khi giải học sinh phải thực hiện thao tác tính toán.
- Bài tập sinh học - Bài tập về QLDT 
Bản chất của bài tập sinh học là sự mâu thuẫn giữa những mối quan hệ sinh học đã biết với những mối quan hệ sinh học cần tìm.
Bài tập QLDT là dạng bài tập trong đó chứa đựng các mối quan hệ về di truyền. Chẳng hạn bài tập về lai một cặp tính trạng, phân ly độc lập, liên kết gen, hoán vị gen,
Bài tập tạp giao là dạng bài tập cho các cơ thể bố mẹ giao phối ngẫu nhiên với nhau.
2.1.3. Cơ sở xác định kỹ năng giải bài tập về QLDT – bài tập tạp giao 
 a) Dựa vào mục tiêu cơ bản về dạy học các QLDT 
*) Về kiến thức 
- Học sinh giải thích được cơ chế hình thành tính trạng ở sinh vật .
- Giải thích được cơ chế và QLDT tính trạng từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
- Chỉ ra được mối quan hệ giữa kiểu gen, kiểu hình trong điều kiện môi trường nhất định.
 - Học sinh giải thích được cách tạo giao tử qua quá trình giảm phân, tỉ lệ các loại giao tử đó
 - Mối quan hệ giữa tỉ lệ giao tử của mỗi cặp gên với tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình trong các phép lai tạp giao của một hay nhiếu cặp gen phân li độc lập nhau
	*) Về kỹ năng :
Vận dụng kiến thức về nội dung các QLDT, nắm vững mối quan hệ thuận - nghịch giữa thế hệ trước và thế hệ sau để xác định được :
+ Kiểu di truyền.
+ Kiểu gen của bố, mẹ.
+ Giao tử của bố, mẹ : số loại, tỷ lệ của mỗi loại.
+ Tỷ lệ các tổ hợp kiểu gen của đời con.
+ Tỷ lệ các loại kiểu hình ở đời con.
+ Thiết lập được mối quan hệ giữa kiểu gen, kiểu hình và tỉ lệ giao tử
 b) Dựa vào đặc điểm các bài tập về QLDT 
Việc hình thành kỹ năng giải bài tập nói chung, bài tập QLDT nói riêng còn phải căn cứ vào đặc điểm của bài tập. Nghĩa là căn cứ vào đặc điểm của mối quan hệ chứa đựng trong bài tập.
Bài tập về các QLDT chứa đựng mối quan hệ giữa kiểu gen , kiểu hình , kiểu di truyền , kiểu phân ly một cách khắng khít và lôgic cả về mặt định tính và định lượng.
Qua nghiên cứu trong phạm vi giữa P và F chúng tôi nhận thấy có các mối quan hệ sau : (Sơ đồ 1)
Tỷ lệ kiểu hình 
Kiểu phân ly
Kiểu gen
Các cặp gen
Kiểu tương tác 
Kiểu hình
Tỷ lệ giao tử 
Tỷ lệ kiểu gen
P 
F
Sơ đồ 1 : Các mối quan hệ thường gặp trong các quy luật di truyền
Từ sơ đồ trên cho thấy trong mỗi bài tập về QLDT chứa nhiều mối quan hệ, muốn giải được bài tập QLDT thì học sinh phải có các kỹ năng cơ bản, như : kỹ năng xác định kiểu gen , kỹ năng xác định giao tử, kỹ năng xác định các tổ hợp gen, kỹ năng xác định kiểu hình ,
2.1.4. Cơ sở lí luận hình thành kỹ năng giải bài tập tập tạp giao bằng phương pháp tính tỉ lệ giao tử
a) Quy luật phân ly của MenĐen
Trong TB nhân thực, nhiễm sắc thể được tạo thành cặp tương đồng ở bố mẹ (2n) và phân ly vào giao tử (n) rồi được kết hợp lại ở hợp tử (2n) khi thụ tinh.
Nhân tố di truyền mà Menđen giả định là thành cặp ở bố mẹ, chúng cùng tồn tại và quy định nên các tính trạng nhưng không hòa lẫn vào nhau mà phân ly và lại được tổ hợp lại ở thế hệ sau. Các nhân tố di truyền được Menđengiả định về sau này được gọi là gen (Johannsen - 1909).  Ví  dụ  một  cặp  thể  nhiễm sắc  tương  đồng,  trong  đó  một  chiếc (bố)  mang  alen  A và chiếc kia (mẹ) mang alen a (hoặc ngược lại). Cơ thể bố mẹ 2n có thể là AA(đồng hợp trội), aa (đồng hợp lặn) và Aa(dị hợp) và khi phân ly sẽ cho ra Avà a, và khi tổ hợp sẽ lại cho ra AA, aa hoặc Aa. Đó là qui luật phân ly của Menđen:
P                      Hạt vàng (AA)     ×       Hạt xanh (aa)
Giao tử P                     A                                 a
F1                                         Aa (vàng)
Giao tử F1            (½ A : ½ a)cái            (½ A : ½ a)đực
F2 Tỷ lệ kiểu gen      1/4 AA : 2/4 Aa : 1/4 aa
Tỷ lệ kiểu hình      3/4 vàng (A-) : 1/4 xanh (aa)
- Nội dung quy luật phân ly của Menđen: “ Mỗi tính trạng do một cặp gen quy định, một có nguồn gốc từ bố,một có nguồn gốc từ mẹ.Các alen của bố và mẹ tồn tại trong tế bào của cơ thể con một cách riêng rẽ, không hòa trộn vào nhau. Khi hình thành giao tử, các thành viên của một cặp alen phân li đồng đều về các giao tử, nên 50% số giao tử chứa alen này còn 50% giao tử chứa alen kia” 
( SGK Sinh học 12 cơ bản- trang 35)
b) Quy luật phân ly độc lập của MenĐen
Để xác định sự di truyền đồng thời của nhiều tính trạng, MenĐen đã tiến hành nhiều thí nghiệm khác nhau. 
- Trong phép lai hai tính trạng, khi lai bố mẹ thuần chủng hạt vàng, vỏ hạt trơn với hạt xanh, vỏ hạt nhăn thì tất cả con lai F1 đều có kiểu hình trội kép là hạt vàng và trơn. Khi cho F1 tự thụ phấn, ở F2 xuất hiện 4 kiểu hình là vàng-trơn, vàng-nhăn, xanh-trơn và xanh-nhăn với kết quả: 315: 101: 108: 32, kết quả này xấp xỉ = 9:3:3:1.
- Nếu xét tỷ lệ phân ly của từng tính trạng ở F2, ta có: 315 + 101 = 416 vàng và 108 + 32 = 140 xanh, xấp xỉ 3 vàng : 1 xanh. Tương tự, về hình dạng hạt, ta có 315 + 108 = 423 trơn và 101 + 32 = 133 nhăn, xấp xỉ 3 trơn : 1 nhăn. Điều đó chứng tỏ mỗi tính trạng đều tuân theo quy luật phân ly 3 trội :1 lặn.
- Bằng cách áp dụng quy tắc nhân xác suất của các biến cố độc lập, ta dễ dàng chứng minh được rằng sự phân ly của hai tỷ lệ này là hoàn toàn độc lập nhau như dự đoán ban đầu. Thật vậy, (3 vàng :1 xanh)(3 trơn :1nhăn) = 9 vàng-trơn : 3 vàng-nhăn : 3 xanh-trơn : 1 xanh-nhăn.
- Nội dung của quy luật “Các cặp nhân tố di truyền quy định các tính trạng khác nhau phân li độc lập trong quá trình hình thành giao tử”( SGK Sinh học 12 cơ bản – trang 38)
2.2. Thực trạng:
Trong quá trình giảng dạy mong muốn cao nhất của mỗi giáo viên là sau mỗi tiết dạy, mỗi bài học, mỗi chương học sinh có thể vận dụng kiến thức bài học vào thực tế và rõ nhất vào các bài luyện tập để từ đó học sinh đạt được kết quả cao trong học tập. Thực tế trong những năm học gần đây hình thức kiểm tra ở môn Sinh học 12 đã được thay đổi theo hướng trắc nghiệm khách quan nên bản thân tôi trong quá trình giảng chương “Tính quy luật của hiện tượng di truyền” nhận thấy cần phải có sự thay đổi phương pháp trong việc giúp học sinh tìm nhanh tỉ lệ kiểu hình, kiểu gen của phép lai đặc biệt trong các phép tạp giao rất phức tạp. 
Thực tế ở một số môn học khoa học tự nhiên như : Toán, Vật lý, Hóa học,việc hình thành kỹ năng giải bài tập là một việc làm thường xuyên và không thể thiếu được thông qua các tiết bài tập, luyện tập, tự chọn, học thêm, học theo nhóm...
Tuy nhiên đối với môn Sinh học, qua điều tra về thực trạng kỹ năng giải bài tập Sinh học nói chung và đặc biệt là bài tập tạp giao phức tạp trong các quy luật di truyền (QLDT) của học sinh nói riêng hiện nay cho thấy phần lớn học sinh còn lúng túng. Chính điều đó đã hạn chế rất nhiều đến việc tiếp thu kiến thức di truyền học của học sinh cấp trung học phổ thông, hạn chế học sinh nắm được mối quan hệ chặt chẽ giữa các kiến thức đã học để từ đó nắm được bản chất của kiến thức, phù hợp với đề thi Đại Học của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo trong vài năm trở lại đây
Nguyên nhân của thực trạng trên, theo tôi có một số nguyên nhân sau :
- Về phía giáo viên : Việc trang bị cho học sinh những kiến thức có liên quan đến kỹ năng giải bài tập di truyền chưa được đầy đủ. Ví dụ như kiến thức về quá trình giảm phân phát sinh giao tử,tỉ lệ các loại giao tử, quá trình tổ hợp tự do của các loại giao tử trong thụ tinh; các mối quan hệ trong các QLDT, đặc biệt là kiến thức cốt lõi của các quy luật di truyền là quy luật của Menđen
- Về phía học sinh : Nhiều em chưa có phương pháp học tập phù hợp, học theo kiểu thụ động hoặc xem môn Sinh học là môn học phụ. Chính điều này đã ảnh hưởng không ít đến chất lượng học tập bộ môn.
- Theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bố trí tiết bài tập cho học sinh rất ít, trong cả chương quy luật di truyền chỉ có 2 tiết : tiết 16 và tiết 17 trong phân phối chương trình Sinh học lớp 12 cơ bản. Vì vậy, giáo viên cũng rất khó hướng dẫn các bài tập cho học sinh theo đúng yêu cầu chưa nói đến các dạng bài tập mà đề thi Đại Học thường đề cập, đặc biệt là dạng bài tập tạp giao phức tạp. Mặt khác thời gian học thêm môn Sinh Học trong các trường THPT cũng rất hạn chế
- Một vài năm gần đây, số học sinh thi Đại Học khối B của trường THPT Quảng Xương 2 giảm rõ rệt, một phần do một số trường Y lấy điểm đầu vào quá cao nên đa số học sinh không mặn mà với môn Sinh Học, một phần không có thời gian trên lớp để hướng dẫn kỷ các em các kiến thức vận dụng giải các bài tập.
Từ những thực trạng đó để có thể nâng cao chất lượng dạy và học môn Sinh học nói chung và các QLDT nói riêng, đòi hỏi mỗi giáo viên cần có những biện pháp cụ thể, nhất là hình thành cho học sinh được kỹ năng giải bài tập di truyền, đặc biệt các bài tập tạp giao phức tạp góp phần khắc phục những yếu kém của học sinh hiện nay.
2.3. Các giải pháp để hình thành kỹ năng giải nhanh bài tập tạp giao bằng phương pháp tính tỉ lệ giao tử
	Nếu trong quần thể tại thời điểm xác định có n kiểu gen thì số phép lai tạp giao có thể xảy ra là: n + Cn2 = .Vì vậy nếu trong quần thể có càng nhiều kiểu gen thì số phép lai xảy ra càng nhiều nên việc viết kết quả các phép lai đó,đồng thời thống kê kết quả về kiểu gen và kiểu hình của tất cả các phép lai rất phức tạp, tốn thời gian và nhiều khi còn sai sót, không phù hợp với hình thức thi trắc nghiệm hiện nay. Nhưng nếu áp dụng cách tính tỉ lệ giao tử thì đơn giản và nhanh hơn rất nhiều, phù hợp khi làm bài tập trắc nghiệm đặc biệt là thi đại học
2.3.1.Trong phép lai một tính trạng do một cặp gen quy định : 
Từ quy luật phân li của MenĐen, giáo viên yêu cầu học sinh hình thành được các sơ đồ lai, kết quả về tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình và tỉ lệ giao tử tương ứng sau:
Phép lai của P
Tỉ lệ KG ở F1
Tỉ lệ KH ở F1
Tỉ lệ giao tử tạo ra ở F1
AAx AA
100% AA
100% A-
( 100% trội)
A = 1
AA x Aa
1AA: 1Aa
100% A-
( 100% trội)
A = ¾
a = 1/4
AA x aa
100% Aa
100% A-
( 100% trội)
A = ½
a = 1/2
Aa x Aa
1AA: 2Aa: 1aa
3 A- : 1 aa
(3 trội : 1 lặn)
A = 1/2
a = 1/2
Aa x aa
1Aa : 1aa
1 A- : 1aa
(1 trội : 1 lặn)
A = ¼
a = 3/4
aa x aa
100% aa
100% aa
(100% lặn)
a = 1
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên yêu cầu học sinh phải nắm được 6 sơ đồ trên để áp dụng vào giải bài tập, đây chính là cơ sở chính để giải quyết nhanh các bài tập quy luật di truyền nói chung và bài tập tạp giao phức tạp bằng phương pháp tính tỉ lệ giao tử nói riêng.
	Ngoài ra, nếu nhũng bài tập nào không thuộc trong 6 dạng trên thì giáo viên đưa ra công thức tổng quát hơn bằng cách cho học sinh tự hoàn thành bài tập sau: Cho thế hệ ban đầu có kiểu gen như sau: dAA + hAa + r aa ( trong đó d + h + r = 1), tính tỉ lệ giao tử tạo ra. Từ đó học sinh rút ra được công thức tổng quát: tỉ lệ giao tử tạo ra là: A = d + h/2 và a = h/2 + r
	Khi gặp các bài tập tạp giao giữa rất nhiều kiểu gen với nhau thì chúng ta nên tính tỉ lệ giao tử, sau đó cho các alen kết hợp một cách ngẫu nhiên với nhau để xác định tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình hoặc những chỉ tiêu liên quan đến kiểu gen và kiểu hình mà đề bài yêu cầu 
Ví dụ 1: Cho 2 cây cà chua thân cao giao phối với nhau, F1 xuất hiện toàn thân cao.Tiếp tục cho cây F1 giao phối với nhau thu F2 có cả thân cao với cây thân thấp.Biết chiều cao thân do 1 gen quy định.xác định kiểu gen của F2 tính chung từ các tổ hợp lai F1:
A. 3AA:2Aa:3aa	B. 9AA:6Aa:1aa
C.1AA:6Aa:9aa	D. 1AA:2Aa:1aa
- Cách giải : Từ đề bài suy ra thân cao( A) trội hoàn toàn so với thân thấp(a). Ta có: P : AA X AaF1: 1 AA: 1 Aa ( 100% thân cao)
- Cách giải truyền thống :
Cho F1 giao phối với nhau, có 3 phép lai xảy ra là
 AA X AA và AA X Aa và Aa x Aa 
Để viết được kết quả 3 phép lai trên sau đó tổng hợp kết quả chung rất mất thời gian, phức tạp, dễ nhầm kết quả.
- Cách giải sử dụng sáng kiến kinh nghiệm: Từ kết quả F1: 1AA:1Aa ta có thể tính tỉ lệ giao tử của bố và mẹ là 3/4A: 1/4a.Khi cho F1 phối với nhau ta có: (3/4A:1/4a)(3/4A:1/4a) = 9/16 AA: 6/16Aa: 1/16 aa nên chọn đáp án B
Ví dụ 2: Cho một cây hoa đỏ lai với một cây hoa vàng, F1 thu được toàn hoa đỏ. Cho F1 tự thụ phấn thu được F2 có tỉ lệ 601 cây hoa đỏ: 198 cây hoa vàng.Tiếp tục cho các cây F2 hoa đỏ giao phối ngẫu nhiên với nhau.Tỉ lệ kiểu hình thu được ở thế hệ lai là:
A. 8:1 	B. 5:1	C. 3:1	D.1:2:1
- Cách giải: Từ kết quả bài ra ta có tính trạng hoa đỏ trội hoàn toàn so với tính trạng hoa vàng. Qui ước: A: đỏ; a: vàng.Ta có sơ đồ lai sau:
P: AA x aa F1: AaF2: 1AA: 2Aa : 1aa
- Cách giải truyền thống :
F2 hoa đỏ( có kiểu gen AA và Aa) giao phối ngẫu nhiên, có 3 phép lai xảy ra: AA x AA và AA x Aa và Aa x Aa 
- Cách giải sử dụng sáng kiến kinh nghiệm:
F2: 1AA: 2Aa : 1aa
F2 hoa đỏ giao phối ngẫu nhiên, tức là cho 1AA, 2Aa giao phối ngẫu nhiên với nhau.
 F2 = (1/3 AA: 2/3 Aa) x (1/3 AA: 2/3 Aa)
Giao tử của F2 là: A = 2/3; a = 1/3
 F3: aa = 1/3 x 1/3 = 1/9 nên A- = 8/9, chọn đáp án A
- Ví dụ 3 ( ĐH 2012). Ở một quần thể thực vật lưỡng bội, xét một gen có hai alen nằm trên nhiễm sắc thể thường:alen A quy định hoa đỏ trội hoàn toàn so với alen a quy định hoa trắng. Khi quần thể này đang ởtrạng thái cân bằng di truyền có số cây hoa trắng chiếm tỉ lệ 4%. Cho toàn bộ các cây hoa đỏ trong quần thể đó giao phấn ngẫu nhiên với nhau, theo lí thuyết, tỉ lệ kiểu h.nh thu được ở đời con là:
A. 15 cây hoa đỏ : 1 cây hoa trắng 	B. 35 cây hoa đỏ : 1 cây hoa trắng
C. 24 cây hoa đỏ : 1 cây hoa trắng 	D. 3 cây hoa đỏ : 1 cây hoa trắng
Hướng dẫn:
aa = 4% tần số alen a = 0.2 ; Tần số alen A = 0.8
 CTDT của QT: 0.64AA : 0.32Aa : 0.04aa
Toàn bộ cây hoa đỏ gồm 0.64AA : 0.32Aa 2AA : 1Aa Tỉ lệ giao tử tạo ra: a = 1/6 , A = 5/6
 Tỷ lệ cây hoa trắng (aa) ở đời con = 1/6 x 1/6 = 1/36
 Tỷ lệ cây hoa đỏ (A-) ở đời con = 1 - 1/36 = 35/36 nên ta chọn đáp án B
2.3.2.Trong phép lai hai hay nhiều tính trạng do hai hay nhiều cặp gen quy định phân li độc lập: 
Giáo viên sử dụng hệ quả của qui luật phân li độc lập Menden là “Khi lai cặp bố mẹ thuần chủng khác nhau về hai hay nhiều cặp tính trạng tương phản ,di tryền độc lập với nhau, thì xác suất xuất hiện mỗi kiểu hình ở F2 bằng tích xác suất của các tính trạng hợp thành nó” 
	Ví dụ 4: Ở đậu Hà Lan, gen A: thân cao, alen a: thân thấp; gen B: hoa đỏ, alen b: hoa trắng nằm trên 2 cặp NST tương đồng. Cho đậu thân cao, hoa đỏ dị hợp về 2 cặp gen tự thụ phấn được F1. Chọn ngẫu nhiên 1 cây thân cao, hoa trắng và 1 cây thân thấp, hoa đỏ ở F1 cho giao phấn với nhau. Nếu không có đột biến và chọn lọc, tính theo lí thuyết thì xác suất xuất hiện đậu thân cao, hoa đỏ ở F2 là
A. 4/9.	B. 2/9.	C. 1/9.	D. 8/9.
- Cách giải truyền thống: F1 có tỉ lệ phân li như sau: 9A-B-: 3A-bb: 3aaB-: 1aabb. Vậy khi cho giao phấn cây F1 có kiểu hình cây cao, hoa trắng (A-bb) với cây F1 thân thấp, hoa đỏ ( aaB-) thì ta có 4 trường hợp xảy ra như sau:
- 1AAbb x 1aaBB
- 1AAbb x 2aaBb
- 2Aabb x 1aaBB
- 2Aabb x 2 aaBb
Việc viết kết quả của 4 phép lai trên là quá phức tạp
- Cách giải sử dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Ta có phép lai: cây cao, hoa trắng (A-bb) x cây thấp, hoa đỏ (aaB-)
+ Xét riêng tính trạng chiều cao cây: trong cây cao (A-), ta có: 
A- = 1AA + 2Aa nên ta tính được tỉ lệ giao tử được sinh ra từ cây này là A = 2/3 và a = 1/3, còn cây thấp aa sinh ra giao tử a = 100%
Vậy xác suất bắt gặp cây cao là: A- = 2/3.1 = 2/3
+ Xét riêng tính trạng màu sắc hoa, tương tự ta cũng có, trong cây hoa đỏ(B-) = 1BB+2Bb tạo ra giao tử B = 2/3 và b = 1/3, còn cây hoa trắng tạo ra b = 100%
Vậy xác suất bắt gặp cây hoa đỏ là: 2/3.1 = 2/3
Kết luận: Xác suất cần tìm theo đề bài là: 2/3.2/3 = 4/9 nên ta chọn đáp án A
Ví dụ 5: Các cặp gen nằm trên các cặp NST thường khác nhau. Cho giao phối 2 cơ thể có KG AaBb và aaBb với nhau, sau đó cho F1 tạp giao.
a) Tỉ lệ kiểu gen AaBB ở F2 là
A. 1/16                       B. 1/8                          C. 3/32                             D. 3/16
b) Tỉ lệ kiểu gen aabb và AaBb ở F2 lần lượt là
A. 1/8 và 3/16            B. 9/64 và 3/16          C. 1/8 và 1/4                 D. 9/64 và 1/4
c) Tỉ lệ kiều hình A-B- ở F2 là
A. 21/64                     B. 18/64                     C. 14/64                           D. 27/64
- Cách giải truyền thống : 
P: AaBb X aaBb
GP: AB, Ab,aB, ab aB, ab
F1: Thu được 6 loại kiểu gen là: AaBB; AaBb; Aabb; aaBB; aaBb; aabb
Vậy nếu cho F1 tạp giao với nhau thì xảy ra = 21 phép lai, để viết 21 phép lai đó rồi thống kê kết quả thì rất mất thời gian, phức tạp mà kết quả không chính xác
- Cách giải sử dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Tách riêng từng cặp gen ta có: P (Aa x aa)(Bb x Bb)
Ta có kết quả F1: ( 1Aa: 1aa)( 1BB : 2Bb : 1bb)
Tính t

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_hinh_thanh_ky_nang_giai_nhanh_bai_tap_tap_giao_bang_phu.doc