Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng thiết lập ma trận trong việc ra đề kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn Công nghệ Lớp 9

Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng thiết lập ma trận trong việc ra đề kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn Công nghệ Lớp 9

Sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật của thế giới trong những năm đầu của thế kỉ XXI đã tạo ra những tiền đề, những khả năng để nhân loại vững bước vào tương lai. Nhưng đồng thời cùng với quá trình phát triển, nhân loại cũng gặp phải những thách thức mới cần giải quyết. Để khẳng định sự tồn tại của mình, con người buộc phải có những phẩm chất và năng lực thực sự để vươn lên, hoà vào nhịp sống mới. Việc đào tạo ra những con người như vậy có sự đóng góp to lớn của nghành giáo dục và nhà trường là nơi khởi đầu.

Đảng và nhà nước thấy rõ sự phát triển của xã hội gắn liền với sự nghiệp giáo dục, nên đã không ngừng đổi mới tìm ra phương pháp phát triển của ngành giáo dục một cách tối ưu nhất. Do đó hoạt động dạy học ở trường THCS hiện nay có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục ở cấp Trung học.

"Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những hiệu quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, Trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào lao động cuộc sống" (Trích "Luật giáo dục")

Đồng thời với việc đổi mới phương pháp giảng dạy được bộ và sở giáo dục quan tâm và chỉ đạo từ nhiều năm nay, thì việc đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh là một vấn đề đang được quan tâm. Đặc biệt đối với bộ môn công nghệ nhất là công nghệ kỹ thuật thì việc đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh là một vấn đề khó. Với những suy nghĩ đó nên trong quá trình giảng dạy tôi luôn chú ý đến vấn đề đổi  mới cách kiểm tra đánh giá học sinh như thế nào cho phù hợp vừa đảm bảo tính thực tế của nhà trường vừa đảm bảo đánh giá đúng năng lực của học sinh. Là một giáo viên được đào tạo theo chuyên nghành Lý – KTCN đã có nhiều năm giảng dạy môn công nghệ  9 tôi không khỏi trăn trở với việc nâng cao chất lượng môn học và tạo hứng thú cho học sinh đối với môn học. Thời gian qua tôi đã mạnh dạn áp dụng việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh. Ở bài này, tôi xin trình bày những suy nghĩ của mình trong việc áp dụng đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo ma trận đối với bài kiểm tra 1 tiết và kiểm tra học kỳ trong chương trình công nghệ lớp  9.

doc 30 trang Mai Loan 03/11/2023 1190
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Áp dụng thiết lập ma trận trong việc ra đề kiểm tra đánh giá học sinh ở bộ môn Công nghệ Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
UBND QUẬN ĐỐNG ĐA
TRƯỜNG THCS TRUNG PHỤNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG THIẾT LẬP MA TRẬN TRONG VIỆC RA ĐỀ
 KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ HỌC SINH Ở BỘ MÔN 
CÔNG NGHỆ LỚP 9
 Lĩnh vực/ Môn: Công nghệ
 Tên tác giả: Phan Thị Hằng
 GV môn: Lý – Kỹ thuật CN
NĂM HỌC 2013 - 2014
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
4
1. Lý do chọn đề tài.
4
2. Mục đích nghiên cứu.
4
3. Đối tượng nghiên cứu.
5
4. Giới hạn của đề tài.
5
5. Phương pháp nghiên cứu.
5
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
6
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
6
II. CƠ SỞ THỰC TẾ.
6
III. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ Ở TRƯỜNG THCS.
7
IV. ÁP DỤNG THIẾT LẬP MA TRẬN ĐỀ ĐỐI VỚI BÀI KIỂM TRA 45 PHÚT - MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 9 - TRƯỜNG THCS TRUNG PHỤNG.
8
1. Đặc điểm chung
9
2. Các yêu cầu đối với hoạt động kiểm tra đánh giá
9
3. Qui trình biên soạn một đề kiểm tra viết theo ma trận.
11
4. Vai trò của ma trận trong việc ra đề kiểm tra
15
 * Một số bài kiểm tra minh họa.
17
* Kết quả so sánh
27
C. KẾT LUẬN.
29
* Một số khuyến nghị.
29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
31
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật của thế giới trong những năm đầu của thế kỉ XXI đã tạo ra những tiền đề, những khả năng để nhân loại vững bước vào tương lai. Nhưng đồng thời cùng với quá trình phát triển, nhân loại cũng gặp phải những thách thức mới cần giải quyết. Để khẳng định sự tồn tại của mình, con người buộc phải có những phẩm chất và năng lực thực sự để vươn lên, hoà vào nhịp sống mới. Việc đào tạo ra những con người như vậy có sự đóng góp to lớn của nghành giáo dục và nhà trường là nơi khởi đầu.
Đảng và nhà nước thấy rõ sự phát triển của xã hội gắn liền với sự nghiệp giáo dục, nên đã không ngừng đổi mới tìm ra phương pháp phát triển của ngành giáo dục một cách tối ưu nhất. Do đó hoạt động dạy học ở trường THCS hiện nay có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục ở cấp Trung học.
"Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những hiệu quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học THPT, Trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào lao động cuộc sống" (Trích "Luật giáo dục")
Đồng thời với việc đổi mới phương pháp giảng dạy được bộ và sở giáo dục quan tâm và chỉ đạo từ nhiều năm nay, thì việc đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh là một vấn đề đang được quan tâm. Đặc biệt đối với bộ môn công nghệ nhất là công nghệ kỹ thuật thì việc đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh là một vấn đề khó. Với những suy nghĩ đó nên trong quá trình giảng dạy tôi luôn chú ý đến vấn đề đổi mới cách kiểm tra đánh giá học sinh như thế nào cho phù hợp vừa đảm bảo tính thực tế của nhà trường vừa đảm bảo đánh giá đúng năng lực của học sinh. Là một giáo viên được đào tạo theo chuyên nghành Lý – KTCN đã có nhiều năm giảng dạy môn công nghệ 9 tôi không khỏi trăn trở với việc nâng cao chất lượng môn học và tạo hứng thú cho học sinh đối với môn học. Thời gian qua tôi đã mạnh dạn áp dụng việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh. Ở bài này, tôi xin trình bày những suy nghĩ của mình trong việc áp dụng đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh theo ma trận đối với bài kiểm tra 1 tiết và kiểm tra học kỳ trong chương trình công nghệ lớp 9.
2. Mục đích nghiên cứu
Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu then chốt của quá trình đổi mới giáo dục phổ thông. Đổi mới kiểm tra, đánh giá nhằm chuẩn đoán năng lực và trình độ của học sinh, xác định kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu, theo chuẩn kiến thức đồng thời đánh giá sự phát triển nhân cách nói chung của học sinh theo mục tiêu giáo dục. Mặt khác đổi mới kiểm tra đánh giá là động lực thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao chất lượng, đảm bảo mục tiêu giáo dục.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu là giáo viên dạy công nghệ và học sinh học công nghệ lớp 9 trường THCS Trung Phụng - Đống Đa - Hà Nội.
- Đối tượng nghiên cứu là các cơ sở lý luận, thực tiễn và các giải pháp, biện pháp chỉ đạo phong trào đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh - trường THCS Trung Phụng - Đống Đa - Hà Nội.
4. Giới hạn của đề tài
Trong phạm vị của đề tài này tôi chỉ xin phép được nghiên cứu và áp dụng thực hiện đổi mới cách kiểm tra đánh giá theo ma trận đề ở bộ môn công nghệ lớp 9 của trường THCS Trung Phụng - Đống Đa - Hà Nội.
Đề tài trình bày các vấn đề sau: Cơ sở lí luận – Thực trạng vấn đề – Một số suy nghĩ và giải pháp – Kết quả thu được và bài học kinh nghiệm.
Đề tài được thực hiện trong các năm học 2012 - 2013, 2013 - 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu nội dung, mục đích yêu cầu của việc đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh trong môn công nghê ở trường THCS.
- Các phương pháp thực tiễn: phương pháp quan sát, thống kê, và phương pháp thực nghiệm trong trường THCS Trung Phụng.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Môn công nghệ lớp 9 được thiết kế theo mô đun nghề nên có thời lượng thực hành khá cao; Là môn học mang tính thức tế, gắn với thực tiễn đời sống sản xuất, rất thiết thực cho việc chọn nghề, hướng nghiệp cho học sinh sau khi ra trường.
Như chúng ta đã biết môn công nghệ có những đặc thù riêng so với môn học khác. Có thể nói đây là môn học khó cho giáo viên và học sinh cả về phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò. Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên dạy bộ môn công nghệ được đào tạo chuyên ngành còn thiếu. 
Là môn học mang tính thực tiễn cao, học đi đôi với hành, thực hành nhằm củng cố lý thuyết cho học sinh mặt khác để hình thành những kỹ năng cần thiết cho học sinh và tập cho học sinh vận dụng kiến thức kỹ năng đã học vào thực tế, vào cuộc sống hàng ngày, qua đó gây thêm sự hứng thú và lòng say mê của học sinh đối với môn học.
Để tăng hiệu quả học tập, nhằm rèn luyện kỹ năng, thái độ đúng đắn khoa học trong lao động, làm việc theo qui trình, rèn luyện tác phong công nghiệp thì việc tổ chức đánh giá kết quả học tập là một công việc hết sức quan trọng của giáo viên và học sinh. Đây là vấn đề vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính nhạy cảm. Thực tế cho thấy nhiều học sinh và cả phụ huynh, thậm trí ngay cả giáo viên đều coi đây là môn phụ nên chưa có sự đầu từ thích đáng về thời gian nghiên cứu tài liệu, đầu tư cho các giờ học lý thuyết, đặc biệt do thời lượng kiến thức lí thuyết ngắn nên việc đầu tư nghiên cứu cho việc ra đề kiểm tra kiến thức học sinh nhiều khi không được giáo viên coi trọng.
II. CƠ SỞ THỰC TẾ.
Hiện nay, việc sử dụng phương pháp dạy học đa phương tiện đã trở thành một xu hướng mạnh mẽ trên thế giới gây nên những biến đổi sâu sắc về mục đích, nội dung và phương pháp dạy học trên quy mô quốc tế.
Do vấn đề đổi mới giáo dục ở phổ thông, sự thay đổi này ngày càng tiếp cận với các thành tựu khoa học mới; Do chương trình và sách giáo khoa hiện nay được biên soạn theo hướng mở, không cung cấp thông tin đầy đủ; Do yêu cầu đổi mới về kiểm tra đánh giá Xuất phát từ thực tế đó, đồng thời với lượng kiến thức học sinh phải lĩnh hội ngày càng nhiều, nhưng không thể đòi hỏi tất cả các học sinh phải say mê tất cả các môn học. Đó là điều rất khó trong các nhà truờng hiện nay. Tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của từng học sinh mà mức độ tập trung đến từng môn học của các em có hướng khác nhau. Đặc biệt hiện nay có sự phân hoá rõ nét về học lực của các học sinh trong từng lớp học.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kĩ thuật của Thế giới trong những năm đầu của thế kỉ XXI. Học sinh Việt Nam cũng không thể tách ra khỏi sự phát triển đó. 
Bên cạnh đòi hỏi đó của xã hội thì các nhà trường Việt Nam cũng như giáo viên giảng dạy cũng gặp những vấn đề nan giải: Đó là cơ sở vật chất, phương tiện dạy học của trường nghèo nàn, thiếu thốn. Nên việc đòi hỏi giáo viên trong từng tiết dạy phải nắm bắt được việc học sinh tiếp nhận tri thức đến đâu là khó có thể thực hiện được. Việc kiểm tra kiến thức cũ đối với giáo viên trong từng tiết học cũng khó thực hiện chưa nói đến việc nâng cao và mở rộng kiến thức cho bài dạy. Tất cả các hạn chế đó dẫn tới kết quả học sinh nắm kiến thức chưa sâu, khả năng liên hệ, kết nối những phần kiến thức trong một môn chưa tốt, dẫn tới sự liên hệ giữa một số môn với nhau cũng bị hạn chế .
Đổi mới phương pháp dạy học là một trọng tâm của đổi mới giáo dục. Luật giáo dục (điều 28) yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. 
Trong quá trình đổi mới Giáo dục ở THCS, bao gồm việc thực hiện đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp,  tất yếu phải đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh. Để thực hiện tốt việc đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh, giáo viên phải căn cứ và nắm rõ vào:
- Mục tiêu giáo dục của THCS.
- Mục tiêu dạy học môn công nghệ.
- Chuẩn kiến thức, kĩ năng cụ thể môn công nghệ THCS.
- Chương trình môn học, biết rõ những yêu cầu mới trong mục tiêu, thực trạng của việc đánh giá ở trường THCS, những định hướng đổi mới việc đánh giá kết quả học tập của HS. 
III. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN CÔNG NGHỆ Ở TRƯỜNG THCS.
Môn công nghệ hiện nay là sự tổng hợp nhiều môn có ý nghĩa thực tế cho người học. Nó giúp người học hiểu được những kiến thức ban đầu, thông thường vễ kỹ thuật và công nghệ một số lĩnh vực phổ biến như công – nông – lâm – ngư nghiệp – kinh tế gia đình – kinh doanh. Bước đầu hình thành tư duy công nghệ, tu duy kinh tế. Thông qua kiến thức chương trình môn công nghệ hình thành được môt số kỹ năng lao động nghề nghiệp đơn giản; có thói quen làm việc theo kế hoạch, có thái độ quý trọng lao động, say mê, hứng thú học.
Thực chất của việc kiểm tra đánh giá kết quả học sinh là nhằm mục đích: Làm sáng tỏ mức độ đạt được của học sinh về kiến thức, kĩ năng, thái độ so với mục tiêu giáo dục, mục tiêu dạy học và chuẩn kiến thức kĩ năng đã quy định trong chương trình môn học; Bên cạnh đó đồng thời công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của học sinh, giúp học sinh nhận ra những tồn tại và tiến bộ, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm, tự giác, ý chí vươn lên trong học tập.
Mặt khác các kết quả kiểm tra đánh giá giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động chuyên môn và các hỗ trợ khác nhằm đạt mục tiêu dạy học. Như vậy việc kiểm tra đánh giá không chỉ đơn thuần là nguồn cung cấp thông tin phản hồi về quá trình dạy học mà còn là cơ chế điều khiển một cách có hiệu quả quá trình này.
Song thực tế hiện nay ở hầu hết các trường THCS việc kiểm tra đánh giá kết quả ở môn công nghệ chỉ được coi là một hình thức nhằm kiểm tra mức độ đạt được của học sinh về kiến thức học thuộc. Các đề kiểm tra thường chủ yếu tập trung vào một vấn đề nhất định do thời lượng kiến thức ít mà chưa thực sự chú ý vào việc vận dụng kiến thức trong thực tế đời sống.
Đối với việc kiểm tra đánh giá bài thực hành chủ yếu do giáo viên đánh giá là chính mà chưa tạo điều kiện để học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Và thậm trí giáo viên có thể thay bài kiểm tra viết cho bài kiểm tra thực hành vì giáo viên không cho học sinh thực hành hoặc do thiếu nguyên vật liệu, dụng cụ nên không thực hành.
Chúng ta đã biết chương trình công nghệ lớp 9 được thiết kế theo mô đun nghề với thời lượng kiến thức thực hành là chủ yếu. Chương trình gồm có 12 bài được thực hiện trong 37 tuần do đó lượng kiến thức về lý thuyết được giảm tải rất nhiều nhưng nội dung thực hành nhằm tăng tính thực tiễn được nâng cao. Chính điều này đã dẫn đến việc ra đề kiểm tra của giáo viên bị coi nhẹ dẫn đến sơ sài giản đơn. Nội dung đề kiểm tra chưa thật sự chú ý đến chuẩn kiến thức kỹ năng. Học sinh khi làm bài mang tính chất thuộc lòng lý thuyết chứ chưa thực sự có kỹ năng thực hành, vận dụng thực tiễn.
IV. ÁP DỤNG THIẾT LẬP MA TRẬN ĐỀ ĐỐI VỚI BÀI KIỂM TRA 45 PHÚT - MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 9 - TRƯỜNG THCS TRUNG PHỤNG.
1. Đặc điểm chung.
Trường THCS Trung Phụng, là một trường nhỏ nằm sâu trong ngõ 218 - ngõ chợ Khâm Thiên thuộc địa bàn phường Trung Phụng, Đống Đa, Hà Nội. Trường có số lượng học sinh ít. Dân cư trên địa bàn có nhiều đối tượng phức tạp, trình độ dân trí không cao, chất lượng đời sống của dân cư trên địa bàn không đồng đều, sự quan tâm của phụ huynh trong việc học tập của con em mình còn nhiều hạn chế và thường là phó mặc cho thầy cô. Học sinh còn nhiều em mải chơi chưa ham học, phụ thuộc rất nhiều vào nội dung đề cương ôn tập trước mỗi lần kiểm tra. 
Trước những khó khăn chung của trường, ngay từ những buổi đầu của năm học được sự quan tâm chỉ đạo của Chi bộ nhà trường, ban giám hiệu trường THCS Trung Phụng tiếp tục triển khai, học tập, vận dụng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào giảng dạy, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá đối với các bộ môn. Nhằm đánh giá đúng chất lượng dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng bộ môn từ đó có biện pháp điều chỉnh phương pháp dạy học phù hợp. Nhà trường tổ chức thực hiện các chuyên đề nâng cao nghiệp vụ cho giáo viên, tập huấn công tác ra đề và khuyến khích giáo viên ra đề kiểm tra đánh giá học sinh theo ma trận đề. 
Thực tế giảng dạy cho chúng ta thấy để có thể thực hiện đổi mới phương pháp trong giảng dạy đòi hỏi thầy và trò phải có sự cố gắng tích cực trong từng tiết học. Với thời lượng kiến thức lí thuyết trong môn công nghệ rất ít, đặc biệt là công nghệ lớp 9 chỉ chiếm 1/3 thời lượng môn học nên việc coi nhẹ môn học không chỉ có ở học sinh mà ngay cả bản thân giáo viên cũng có. Chính vì vậy việc đầu tư cho việc ra đề kiểm tra hầu như không có hoặc có chỉ là rất ít. Ở đây không đơn thuần chỉ là kiểm tra kiến thức của học sinh mà bên cạnh đó thông qua việc kiểm tra đánh giá người thầy khuyến khích động viên học sinh, khơi dậy niềm ham mê, hứng thú với môn học.
Đổi mới phương pháp dạy học phải đi đôi với đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phải căn cứ vào mục tiêu của môn học. Kiểm tra không những trình độ nắm vững kiến thức và vận dụng kiến thức lí thuyết mà cả trình độ kỹ năng thực hành đánh giá cao khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng để xử lí và giải quyết sáng tạo những tình huống mới hoặc ít nhiều thay đổi. Đồng thời giúp học sinh có điều kiện tự đánh giá kết quả học tập của chính mình hoặc của các bạn trong lớp.
Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với phương pháp dạy học. 
2. Các yêu cầu đối với hoạt động kiểm tra đánh giá
- Hỗ trợ quá trình học tập theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
- Chỉ ra những điểm yếu, mạnh trong qua trình dạy học
- Khuyến khích các kết quả đầu ra dự kiến
- Sử dụng các phương pháp, kĩ thuật đánh giá khác nhau
- Khuyến khích tự kiểm tra đánh giá và đánh giá lẫn nhau ở học sinh
- Bảo đảm nguyên tắc kiểm tra đánh giá toàn diện, phù hợp, công bằng, hiệu lực, đáng tin cậy và khả thi
- Khuyến khích học sinh chịu trách nhiệm đối với học tập của mình 
          Vị trí, vai trò của kiểm tra – đánh giá là không chỉ ở thời điểm cuối cùng của mỗi giai đoạn giáo dục mà trong cả quá trình. Đánh giá ở mỗi thời điểm cuối mỗi giai đoạn sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phải căn cứ vào mục tiêu của môn học. Kiểm tra không những trình độ nắm vững kiến thức và vận dụng kiến thức lí thuyết mà cả trình độ kỹ năng thực hành thí nghiệm, đáng giá cao khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng để xử lí và giải quyết sáng tạo những tình huống mới hoặc ít nhiều thay đổi. Bên cạnh việc kiểm tra đánh giá của giáo viên trong suốt các giờ học, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ thì giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết tự đánh giá kiến thức của mình, biết đánh giá cho bạn mình. Như vậy, thì thay vào việc xưa nay giáo viên độc quyền đánh giá học sinh thì nay học sinh có quyền tham gia vào kết quả đánh giá của chính mình và của bạn mình. Học sinh là cầu nối giữa cá nhân học sinh và giáo viên, trong công tác đổi mới kiểm tra đánh giá. Mỗi cá nhân được thử nghiệm vị trí, vai trò của mình trong công tác kiểm tra đánh giá chính bản thân học sinh.
Do đó việc kiểm tra đánh giá học sinh cần đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra đánh giá. Tăng cường sử dụng hình thức quan sát để đánh giá kỹ năng cũng như quá trình tiến bộ của học sinh. Đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình giảng dạy bộ môn, giúp giáo viên, học sinh kịp thời điều chỉnh và hướng vào mục tiêu đào tạo.
- Có tác dụng củng cố đào sâu, hệ thống hoá kiến thức cho học sinh. Cần phối hợp một cách hợp lý giữa kiểm tra lí thuyết với kiểm tra thực hành, kiểm tra vấn đáp với kiểm tra viết, kiểm tra của giáo viên với tự kiểm tra của học sinh nhằm tạo điều kiện đánh giá một cách toàn diện và hệ thống kết quả học tập của học sinh.
- Nội dung kiểm tra đánh giá kết quả học tập phải dựa trên mục tiêu cụ thể của bộ môn, đảm bảo kiểm tra toàn diện về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ, chú ý đến tính phổ thông đại trà và tính phân loại học sinh. 
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấm bài và xử lí kết quả kiểm tra sao cho vừa nhanh, vừa chính xác, bảo đảm được tính khách quan và sự công bằng, hạn chế được tiêu cực trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để thực hiện được mục đích yêu cầu của việc kiểm tra, người thầy thực sự phải đầu tư không những cả về kiến thức mà còn cả về thời gian. Và như vậy mỗi giáo viên cần xác định đúng mục tiêu, sự cần thiết cũng như chức năng của việc kiểm tra. Nó không chỉ đơn thuần là việc kiểm tra lấy điểm cho đủ theo quy định mà việc kiểm tra đánh giá phải có kế hoạch và thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với những chức năng khác của bài học, đặc biệt là khó tách khỏi việc trình bày và củng cố kiến thức học. Ở từng giai đoạn, từng chương, từng kỳ của môn học, giáo viên qua kiểm tra để đảm bảo cho học sinh có những kiến thức và kỹ năng cần thiết để hiểu kiến thức mới. 
Như chúng ta đã thấy đánh giá kết quả học tập của học sinh là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình giáo dục. Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh nhằm tạo cơ sở cho những điều chỉnh sư phạm của giáo viên giúp học sinh học tập đạt kết quả tốt hơn.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh cần sử dụng phối hợp nhiều công cụ, phương pháp và hình thức khác nhau. Đề kiểm tra là một trong những công cụ được dùng khá phổ biến để đánh giá kết quả của học sinh.
3. Qui trình biên soạn một đề kiểm tra viết theo ma trận. 
Để biên soạn đề kiểm tra cần thực hiện theo qui trình sau:
3.1. Xác định mục đích kiểm tra:
Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kỳ, một lớp hay một cấp học nên khi ra đề cần căn cứ vào mục đích yêu cầu cụ thể của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn mực kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp.
3.2. Xác định mạch nội dung kiểm tra:
Việc xác định các mạch nội dung kiến thức kiểm tra phải dựa trên chuẩn kiến thức và kỹ năng môn học thuộc phạm vi nội dung cần đánh giá. Mạch nội dung càng chi tiết thì tính bao quát và hệ thống của bài kiểm tra càng cao.
3.3. Xây dựng ma trận của đề kiểm tra: 
Việc xây dựng ma trận đề kiểm tra cần tiến hành theo quy trình sau:
+ Bước 1: Xác định mục đích của đề kiểm tra
	Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tra cho phù hợp.
+ Bước 2: Xác định hình thức đề kiểm tra 
Đề kiểm tra có các hình thứ

Tài liệu đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_ap_dung_thiet_lap_ma_tran_trong_viec_r.doc