SKKN Đổi mới tổ chức dạy học kết hợp đổi mới đánh giá nâng cao hiệu quả các bài học thực hành, môn Công nghệ lớp 6

SKKN Đổi mới tổ chức dạy học kết hợp đổi mới đánh giá nâng cao hiệu quả các bài học thực hành, môn Công nghệ lớp 6

Mục tiêu của giáo dục hiện nay chúng ta đang hướng tới giáo dục cho học sinh kiến thức song song với đó là giáo dục kỹ năng cho học sinh. Trong Luật giáo dục 2005 đã chỉ rõ những định hướng chung về đổi mới PPDH là: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng àm việc theo nhó; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.

Vậy đối với môn công nghệ hiện nay, sau khi học xong một bài, một chương hay một phần HS vừa phải nắm bắt được nội dung kiến thức vừa phải hình thành được kỹ năng cho bản thân nhất là kỹ năng thực hành, thực hiện các thao tác theo quy trình. Với môn công nghệ lớp 6 hiện nay theo khung phân phối chương trình được bố trí tổng số tiết là 70 tiết (2 tiêt/tuần). Trong nội dung chương trình của bộ môn công nghệ do đặc thù của môn học nên thời lượng số tiết thực hành và số tiết lý thuyết gần tương đương nhau. Tuy nhiên ở các nhà trường hiện nay khi phân công chuyên môn thường chia 2 tiết học thành 2 buổi khác nhau để GV giảng dạy, việc làm này đã vô tình đã ảnh hưởng đến PPDH của giáo viên cũng như quan điểm dạy học của bộ môn, đặc biệt là trong các bài thực hành.

Trong các tiết thực hành khi dạy một tiết GV và HS phải chuẩn bị rất nhiều đồ dùng dạy học và phải thực hiện tuần tự theo một quy trình, tuy nhiên với cách bố trí các tiết dạy học hiện nay GV và HS khi thực hiện mới được một thời gian ngắn đã hết giờ, phải dừng lại và hôm sau phải chuẩn bị lại từ đầu. bên cạnh đó trong nội dung của bài thực hành HS phải hoàn thiện một sản phẩm tuy nhiên với thời lượng 1 tiết HS mới chỉ thực hiện được một vài bước của quy trình thực hành nên chưa thể hoàn thiện được sản phẩm. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học của GV và khả năng tiếp thu của HS đặc biệt là khả năng hình thành kỹ năng thực hành. Bên cạnh đó trong quá trình tổ chức dạy học khâu đánh giá cũng đóng một vai trò rất quan trọng, tuy nhiên nếu tổ chức dạy học không tốt thì khâu đánh giá cũng không mạng lại hiệu quả, nhât là đánh giá nội dung thực hành thì cần chi tiết hơn và cần có nhiều thời gian hơn.

Qua tham khảo cách tổ chức dạy học của các trường bạn trong huyện tôi thấy cùng chung một thực trạng như trên, chưa có đơn vị nào đổi mới về cách bố trí, tổ chức dạy học môn công nghệ lớp 6 để tạo điều kiện thuân thợi cho GV và HS trong quá trình dạy – học và để đạt hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy. Vì vậy qua quá trình dạy học và tham khảo các đồng nghiệp tôi đã thực hiện đề tài “Đổi mới tổ chức dạy học kết hợp đổi mới đánh giá nâng cao hiệu quả các bài học thực hành, môn công nghệ lớp 6 ”

 

doc 16 trang thuychi01 15151
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Đổi mới tổ chức dạy học kết hợp đổi mới đánh giá nâng cao hiệu quả các bài học thực hành, môn Công nghệ lớp 6", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC
Tên nội dung
Trang
A. Mở đầu
3
1. Lí do chọn đề tài
3
2. Mục đích nghiên cứu.
4
3. Đối tượng nghiên cứu.
4
4. Phương pháp nghiên cứu. 
4
B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
4
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
4
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
5
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
7
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
13
C. Kết luận, kiến nghị.
15
1. Kết luận.
15
2. Kiến nghị.
15
Tài liệu tham khảo
17
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Mục tiêu của giáo dục hiện nay chúng ta đang hướng tới giáo dục cho học sinh kiến thức song song với đó là giáo dục kỹ năng cho học sinh. Trong Luật giáo dục 2005 đã chỉ rõ những định hướng chung về đổi mới PPDH là: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng àm việc theo nhó; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”.
Vậy đối với môn công nghệ hiện nay, sau khi học xong một bài, một chương hay một phần HS vừa phải nắm bắt được nội dung kiến thức vừa phải hình thành được kỹ năng cho bản thân nhất là kỹ năng thực hành, thực hiện các thao tác theo quy trình. Với môn công nghệ lớp 6 hiện nay theo khung phân phối chương trình được bố trí tổng số tiết là 70 tiết (2 tiêt/tuần). Trong nội dung chương trình của bộ môn công nghệ do đặc thù của môn học nên thời lượng số tiết thực hành và số tiết lý thuyết gần tương đương nhau. Tuy nhiên ở các nhà trường hiện nay khi phân công chuyên môn thường chia 2 tiết học thành 2 buổi khác nhau để GV giảng dạy, việc làm này đã vô tình đã ảnh hưởng đến PPDH của giáo viên cũng như quan điểm dạy học của bộ môn, đặc biệt là trong các bài thực hành. 
Trong các tiết thực hành khi dạy một tiết GV và HS phải chuẩn bị rất nhiều đồ dùng dạy học và phải thực hiện tuần tự theo một quy trình, tuy nhiên với cách bố trí các tiết dạy học hiện nay GV và HS khi thực hiện mới được một thời gian ngắn đã hết giờ, phải dừng lại và hôm sau phải chuẩn bị lại từ đầu. bên cạnh đó trong nội dung của bài thực hành HS phải hoàn thiện một sản phẩm tuy nhiên với thời lượng 1 tiết HS mới chỉ thực hiện được một vài bước của quy trình thực hành nên chưa thể hoàn thiện được sản phẩm. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học của GV và khả năng tiếp thu của HS đặc biệt là khả năng hình thành kỹ năng thực hành. Bên cạnh đó trong quá trình tổ chức dạy học khâu đánh giá cũng đóng một vai trò rất quan trọng, tuy nhiên nếu tổ chức dạy học không tốt thì khâu đánh giá cũng không mạng lại hiệu quả, nhât là đánh giá nội dung thực hành thì cần chi tiết hơn và cần có nhiều thời gian hơn.
Qua tham khảo cách tổ chức dạy học của các trường bạn trong huyện tôi thấy cùng chung một thực trạng như trên, chưa có đơn vị nào đổi mới về cách bố trí, tổ chức dạy học môn công nghệ lớp 6 để tạo điều kiện thuân thợi cho GV và HS trong quá trình dạy – học và để đạt hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy. Vì vậy qua quá trình dạy học và tham khảo các đồng nghiệp tôi đã thực hiện đề tài “Đổi mới tổ chức dạy học kết hợp đổi mới đánh giá nâng cao hiệu quả các bài học thực hành, môn công nghệ lớp 6 ”
2. Mục đích nghiên cứu.
 Từ lí do trên qua nghiên cứu các tài liệu và thực hiện thử nghiệm tôi đã mạnh dạn phối kết hợp cùng với nhà trường thay đổi cách tổ chức dạy học môn công nghệ lớp 6 để đảm bảo quá trình dạy học thực hiện đúng quan điểm dạy học bộ môn đó là: Qua các tiết học học sinh không những nắm bắt được kiến thức trên cơ sở khoa học lý thuyết mà học sinh còn được trực tiếp thao tác thực hành nhằm rèn luyện kỹ năng và nắm được quy trình công nghệ để tạo ra một sản phẩm. Học sinh có thể thực hành nhóm, thực hành cá nhân, bên cạnh đó còn phát huy được tính sáng tạo trong học tập và lao động của học sinh. 
3. Đối tượng nghiên cứu.
Trong phạm vi đề tài này tôi nghiên cứu về các vấn đề sau:
- Phương pháp tổ chức dạy học môn công nghệ lớp 6 để mang lại hiệu quả cho các bài học thực hành.
- Cách tổ chức đánh giá kết quả thực hành của HS, phát huy tính chủ động sáng tạo của HS.
	4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và nghiên cứu các tài liệu, văn bản để hiểu được cơ sở lý luận của việc đổi mới PPDH.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Thông qua quá trình dạy học các năm học trước và khảo sát các trường học lân cận.
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi từ đồng nghiệp, học sinh để thu thập thông tin phục vụ cho mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tập hợp lại những kinh nghiệm nghiên cứu và thực tiễn về học sinh để đề xuất các biện pháp. 
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thông kê các số liệu qua theo dõi, khảo sát thực tế để tổng hợp so sánh tính hiệu quả.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Môn công nghệ là môn học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn. Do đó trong mỗi giờ học GV không chỉ trình bày lý thuyết một chiều mà còn phải nêu các vấn đề, đặt ra các câu hỏi giúp HS vận dụng những hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân vào cuộc sống.
Trong giờ học môn công nghệ, GV giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức cho HS thu nhận kiến thức, hình thành kỹ năng thông qua việc tổ chức dạy học đặc biệt là các tiết học thực hành. Một nhà giáo dục Ấn Độ có viết “Tôi nghe – tôi quên; Tôi nhìn – tôi nhớ; Tôi làm – tôi hiểu”. Thực hành sẽ củng cố lí thuyết, mặt khác trải qua kinh nghiệm thực tế học sinh sẽ thay đổi cách tư duy và hành động của mình. Học sinh không chỉ lĩnh hội được kiến thức mới qua việc quan sát và nghe giảng, mà phải cố gắng vận dụng những kiến thức mới này vào thực tiễn để biến thành kiến thức và kỹ năng của chính mình chỉ khi đó quá trình dạy học mới hoàn thiện.
Trong môn công nghệ có 2 loại thực hành. Một loại thực hành giúp học sinh chủ động tìm hiểu, phát hiện kiến thức để lĩnh hội hoặc để khẳng định, củng cố các kiến thức đã học. Loại thực hành thứ 2 là để rèn luyện kỹ năng về công việc nào đó.
Tuy nhiên theo PPDH thực hành thì các tiết học thực hành phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố để giáo dục kiến thức, kỹ năng, thái độ cho HS. Đặc biệt cần hình thành cho HS cách làm việc theo quy trình công nghệ. Đối với mỗi một tiết thực hành hay bài thực hành GV phải thực hiện đủ ba bước Hướng dẫn ban đầu - Hướng dẫn thường xuyên và hướng dẫn kết thúc.
Sau mỗi một nội dung thực hành giáo viên phải tổ chức kiểm ra đánh giá để nắm bắt được khả năng tiếp thu của HS. Từ đó điều chỉnh PPDH trong các tiết tiếp theo.Đánh giá gồm 3 khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết định
Việc đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản:
- Đảm bảo tính khách quan, chính xác.
- Đảm bảo tính toàn diện.
- Đảm bảo tính hệ thống.
- Đảm bảo tính công khai và phát triển,
- Đảm bảo tính công bằng.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
- Đối với các nhà trường hiện nay việc tổ chức dạy học môn công nghệ nhất là môn công nghệ lớp 6 chưa thực sự phù hợp với yêu cầu đặt ra. Vì môn công ghệ lớp 6 chủ yếu trú trọng vào nội dung thực hành trên cơ sở kiến thức lý thuyết, theo khung PPCT thì môn công nghệ lớp 6 được bố trí 2 tiết/tuần. 
Tuy nhiên đa số ở các trường thường chia ra mỗi một buổi học chỉ thực hiện một tiết, việc làm này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả học tập của HS bên cạnh đó cũng gây nhiều khó khăn cho việc soạn giảng và chuẩn bị lên lớp của GV, cụ thể là:
a. Đối với giáo viên:
- Việc tổ chức dạy học gặp rất nhiều khó khăn do phải lập kế hoạch dạy học cho từng tiết học độc lập mà trong đó nội dung bài học cần có sự liên thông theo quy trình công nghệ.
- Khâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết học khó khăn vì các nhà trường không thể có đủ các trang thiết bị dạy học để phục vụ cho các tiết học thực hành nhiều như vậy. 
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy học của các nhà trường không thể đáp ứng đủ cho HS thưc hành nhất là đối với các trường có nhiều lớp.
- Từ khâu tổ chức dạy học chưa khoa học dẫn đến việc đánh giá kết quả học tập của học sinh còn hời hợt, đơn điệu. GV chưa đánh giá được từng mặt, từng phần đạt được của HS.
- Nội dung đánh giá của cả bài thực hành thường mất từ 15 đến 20 phút, trong khi đó GV phải đánh giá toàn diện được cả một quá trình thực hiện của HS đã thực hiện.
 b. Đối với học sinh:
- Việc thực hiện một nội dung thực hành không đủ thời gian dẫn đến trong một tiết học HS chưa hoàn thành được yêu cầu GV đặt ra.
- HS gặp nhiều khó khăn trong việc chuẩn bị các đồ dùng học tập do một bài thực hành lại chia thành nhiều tiết, nhiều buổi khác nhau.
- HS không thực hiện đầy đủ được quy trình thực hành trong một tiết học.
* Qua điều tra nghiên cứu tôi nhận được kết quả như sau: 
 Hiện nay trên địa bàn huyện Thạch Thành có 29 trường THCS trong đó có 28 trường đều thực hiện chia và xếp vào thời khóa biểu mỗi buổi một tiết công nghệ lớp 6. Đối với trường THCS Thạch Đồng của tôi trong các năm học trước đến hết học kỳ I năm học 2014 – 2015 vẫn thực hiện xếp thời khóa biểu như các trường đã nói trên.
Kết quả qua kiểm tra đánh giá kiến thức và kỹ năng của HS cuối học kỳ I năm học 2014 – 2015 khi thực hiện các tổ chức dạy học trên cụ thể như sau: 
Lớp
Tổng số HS
XL giỏi
XL Khá
XL TB
XL Yếu, kém
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
SL
TL%
6A
30
3
10.0
5
16.7
17
56.7
5
16.7
6B
28
1
3.6
5
17.8
16
57.1
6
21.4
Cộng
58
4
6.9
10
17.2
33
56.9
11
18.9
Từ thực trạng trên để việc tổ chức dạy học đạt hiệu quả cao hơn, bắt đầu từ học kỳ II năm học 2014 - 2015 đến nay được sự tạo điều kiện và giúp đỡ của BGH nhà trường tôi đã mạnh dạn thực hiện “Đổi mới tổ chức dạy học kết hợp đổi mới đánh giá nâng cao hiệu quả các bài học môn công nghệ lớp 6 ” và tôi đã nhận được kết quả khả quan. 
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
a. Đổi mới cách tổ chức dạy học:
Ngay từ đầu năm học khi BGH nhà trường phân công chuyên môn tôi đã đề xuất với nhà trường về giải pháp thực hiện của mình đó là: Đối với môn công nghệ lớp 6 khi xếp thời khóa biểu, nhà trường không tách ra mỗi buổi một tiết và hai ngày trong tuần riêng lẻ mà xếp hai tiết liền nhau trong một buổi và nên xếp vào các tiết cuối. 
Ví dụ: Phân công chuyên môn của tôi trong học kỳ II năm học 2014 – 2015 đối với môn công nghệ lớp 6 như sau:
Thứ 3: Tiết 4; 5 Môn công nghệ lớp 6A.
Thứ 6: Tiết 4; 5 Môn công nghệ lớp 6B.
Khi thực hiện xếp thời khóa biểu như vậy sẽ có các ưu điểm sau:
- Đối với GV: 
+ Khi lập kế hoạch dạy học sẽ thiết lập các bước lên lớp mang tính liên tục theo đúng một bài học mà SGK đã viết (đa số mỗi một bài học đều từ 2 tiết trở lên).
+ Khi đăng ký mượn các đồ dùng dạy học và chuẩn bị đồ dùng dạy học GV chỉ cần đăng ký theo đúng nội dung của một bài học mà không cần chia nhỏ theo từng mục, từ đó giảm sự vất vả cho giáo viên.
+ Khi thực hiện giảng dạy trên lớp GV thực hiện hết được các bước lên lớp theo nội dung SGK.
Ví dụ: khi so sánh giữa cách lập kế hoạch cũ trong tiết 6,7 bài 3: Thực hành: Lựa chon trang phục với cách mới như sau:
Cách làm cũ
Cách làm mới
Chuẩn bị của GV: 
Tiết 6: Tranh ảnh về các kiểu trang phục
Tiết 7: Tranh ảnh về các kiểu trang phục
Chuẩn bị của HS:
Tiêt 6: Mẫu máo cáo thực hành nội dung 1
Tiết 7: Mẫu báo cáo thực hành nội dung 2
Chuẩn bị của GV (cả bài): Tranh ảnh về các kiểu trang phục. 
Chuẩn bị của HS: Mẫu báo cáo thực hành
Các bước lên lớp
Tiết 6: 
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ (5phút)
Hoạt động 2: Bài mới:
- Hướng dẫn ban đầu: (10phút)
- Hướng dẫn thường xuyên (15phút)
- Hướng dẫn kết thúc (5 phút)
Hoạt động 3: Đánh giá, tổng kết, nhắc nhở (10phút)
Tiết 7: Lại lặp lại các bước tương tự như tiết 6.
Các bước lên lớp: Thực hiện cho cả 2 tiết.
Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ (5 phút)
Hoạt động 2: Bài mới:
- Hướng dẫn ban đầu: (15 phút)
- Hướng dẫn thường xuyên: (45phút)
- Hướng dẫn kết thúc. (10 phút)
Hoạt động 3: Đánh giá, tổng kết, nhắc nhở (15phút)
- Đối với HS:
+ Khi học tập trên lớp HS được nghiên cứu và thực hiện hết nội dung bài theo bài đã viết trong SGK.
+ Việc học tập sẽ có hệ thống kiến thức nên HS dễ dàng nắm bắt hơn và kiến thức mang tính liên tục và khoa học.
+ Việc giải quyết các tình huống sẽ dễ dàng hơn, HS có đủ thời gian để thảo luận, hợp tác cùng nhau giải quyết một vấn đề.
+ HS sẽ đỡ vất vả hơn trong quá trình chuẩn bị các đồ dùng học tập, không phải đem đi đem lại nhiều lần.
+ Đặc biệt HS có đủ thời gian thực hiện quy trình thực hành đến khi hoàn thành sản phẩm đối với các bài thực hành.
Ví dụ 1: Trong tiết 10, 11; Bài 6: Thực hành: Cắt khâu bao tay trẻ sơ sinh
Cách làm cũ
Cách làm mới
Tiết 10: Học sinh thực hiện các nội dung :
- Vẽ và cắt mẫu giấy.
- Cắt vải theo giấy.
Sau đó phải dừng lại buổi hôm sau .
Tiết 11: Mới thực hiện khâu bao tay- khâu viền gấp mép
Điều này gây khó khăn rất nhiều cho HS:
+ HS thực hành bị ngắt quãng khi chưa hoàn thành sản phẩm.
+ Không thực hiện đúng quy trình từ đầu đến cuối để hoàn thiện một sản phẩm.
+ HS phải thực hiện các bước như chuẩn bị, vệ sinh nơi thực hành nhiều lần.
+ HS không có đủ thời gian để được nghe GV đánh giá kết quả thực hiện, không so sánh được với các bạn trong lớp.
Học sinh được thực hiện tuần tự các bước đến khi hoàn thiện sản phẩm:
- Hướng dẫn ban đầu: HS được GV hướng dẫn cụ thể.
- Hướng dẫn thường xuyên: HS được thực hiện các bước từ:
+ Vẽ và cắt mẫu giấy.
+ Cắt vải theo giấy.
+ Khâu bao tay.
+ Khâu viền gấp mép.
- Hướng dẫn thường xuyên: HS được nghe GV đánh giá, nhận xét chi tiết sản phẩm của mình và so sánh được kỹ năng của mình với các bạn cùng lớp.
Ví dụ 2: Trong tiết 46,47; Bài 6: Thực hành: Chế biến món ăn (Trộn dầu giấm rau xà lách)
Nếu ta thực hiện theo phương pháp cũ học sinh phải chuẩn bị nguyên liệu lặp lại 2 lần cho 2 tiết học vì vậy sẽ gây tốn kém và lãng phí cho GV và HS do các nguyên liệu đó là đồ tươi sống nên không thể sử dụng lại được.
Khi thực hành: ở tiết 46 do thời gian học sinh không có đủ thời gian để hoàn thành được một món ăn mà chỉ mới hoàn thành được một vài giai đoạn trong quy trình. Đến tiết 47 HS không sử dụng lại được các sản phẩm đã thực hiện ở tiết trước mà phải chuẩn bị nguyên liệu mới, ngoài ra học sinh lại phải thực hiện lại từ đầu quy trình chế biến món ăn. 
Khi đổi mới tổ chức dạy học sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GV và HS đó là: Chỉ cần chuẩn bị một lần nguyên liệu. Do có 2 tiết liền nhau nên HS được thực hiện đầy đủ các giai đoạn trong quy trình và đi đến hoàn thiện sản phẩm từ đó GV có thể đánh giá được HS và hiệu quả của bài học.
b. Đổi mới phương pháp dạy – học: 
Khi thực hiện tổ chức dạy học theo 2 tiết liền nhau GV có thể soạn giảng theo các chủ đề hoặc có thể tổ chức dạy học một cách linh hoạt và hiệu quả.
Trong hai tiết liên tục GV tuân thủ thực hiện đủ 3 hoạt động cơ bản của tiết thực hành đó là:
Hoạt động 1: Hướng dẫn ban đầu.
Hoạt động 2: Hướng dẫn thường xuyên.
Hoạt động 3: Hướng dẫn kết thúc.
Trong đó phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của từng hoạt động cụ thể là:
Hoạt động 1: Hướng dẫn ban đầu gồm các hoạt động sau.
- Nêu rõ mục tiêu bài học: GV cần chỉ rõ cho HS sau tiết học cần hình thành được những kỹ năng gì, hoàn thành sản phẩm nào, trong thời gian bao lâu.
- Kiểm tra và củng cố lại những kiến thức đã học và các điều kiện chuẩn bị cho thực hành.
- Trình bày quy trình công nghệ.
- GV thực hiện thao tác mẫu: Để HS cả lớp quan sát, GV làm nhanh một lần sau đó làm lại một lần thật chậm và lưu ý các sai hỏng thường gặp và chú ý an toàn lao động cho các em.
GV chú ý hoạt động này không nên chiếm quá nhiều thời gian của bài thực hành, thông thường chỉ dành từ 10 đến 15 phút/ 90 phút toàn bài.
Hoạt động 2: Hướng dẫn thường xuyên.
Sau khi HS đã nắm được quy trình công nghệ thì hoạt động này là hoạt động quan trọng nhất của HS và chiếm nhiều thời gian nhất trong bài học.
HS có thể thực hành theo nhóm hoặc cá nhân. Trong quá trình các em thực hành nhiệm vụ của GV là phải chú ý quan sát, uốn nắn các thao tác cho các em kịp thời tránh những sai hỏng khi thực hiện để khỏi ảnh hưởng đến các bước tiếp theo.
Hoạt động 3: Hướng dẫn kết thúc. 
Hoạt động này rất quan trọng nên tùy vào nội dung thực hành mà giáo viên dành lượng thời gian nhiều hay ít để thực hiện. Thông qua hoạt động này HS sẽ được GV sẽ đánh giá về mức độ tham gia học tập và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ từ đó rút ra được nhưng kinh nghiệm cho bản thân. 
Vi dụ: Khi đánh giá cho bài thực hành khâu bao tay trẻ sơ sinh GV đánh giá theo các tiêu trí đã định trước: Chuẩn bị, ý thức thực hiện, đảm bảo quy trình công nghệ, thời gian
Khi thực hiện đổi mới tổ chức dạy học theo phương pháp này ngoài việc áp dụng cho các bài thực hành ta có thể áp dụng cho các bài lý thuyết sẽ có những thuận lợi sau:
GV tổ chức dạy học cho HS theo hướng để cho HS tự tiềm hiểu kiến thức mới trên cơ sở những kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày các em đã được gặp, GV không nên truyền thụ một cách thụ động theo SGK viết sẵn mà nên đưa ra các tình huống gần với cuộc sống để gợi mở cho các em tự vận dụng tìm hiểu sau đó GV mới kết luận vấn đề.
Ví dụ: Khi dạy bài 16: Bảo quản chất dinh dưỡng trong chế biến món ăn.
 Tôi đã không thực hiện tuần tự các bước như trong SGK mà tôi đưa ra các tình huống ở dạng trắc nghiệm để các em lựa chọn và giải thích như:
- Thịt cá mua về khi nào chuẩn bị nấu mới cần sơ chế.
- Thịt thái xong mới đem đi rửa.
- Thái rau trước khi rửa.
- Vo gạo thật kỹ rồi mới nấu cơm..
- Khi nấu cơm chưa vội quan tâm lượng nước thừa hay thiếu
Khi HS cùng thảo luận về một vấn đề theo chiều xuôi hay ngược lại và các em có thể tự giải thích được những tình huống, HS sẽ hiểu bài hơn.
Trong quá trình tổ chức lớp học GV sử dụng các PPDH theo hướng đổi mới như 
- Sử dụng phương tiện trực quan để tổ chức tìm tòi bộ phận.
- Sử dụng thuật “tựa lịch sử’ với phương pháp thuyết trình.
- Phương pháp đàm thoại gợi mở - tìm tòi
c. Đổi mới đánh giá kết quả thực hiện các bài thực hành.
 Khi đã thực hiện xếp hai tiết liền nhau GV có thể thực hiện việc kiểm tra đánh giá xuyên suốt quá trình học tập của HS
GV thực hiện các giải pháp cụ thể như sau
* Đánh giá phần chuẩn bị của học sinh.
Để một tiết thực hành thành công thì phần chuẩn bị của cả thầy và trò đều rất quan trọng. Đối với HS cần có sự chuẩn bị đầy đủ những phần GV giao cho. Ở nội dung này GV có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra sau: 
- Giao cho tổ trưởng hoặc trưởng nhóm kiểm tra các thành viên của tổ sau đó báo cáo với GV về sự chuẩn bị của nhóm.
- GV yêu cầu HS đưa ra các đồ dùng, dụng cụ để GV kiểm tra.
* Để thực hiện tốt nội dung này GV cần phải lập một cuốn nhật ký để theo dõi trong tất cả các tiết thực hành, tránh trường hợp HS thường xuyên không chuẩn bị.
Sau khi kiểm tra GV ghi kết quả kiểm tra để có đánh giá vào kết quả của nhóm
Nội dung này được thực hiện vào đầu buổi học.
* Đánh giá việc thực hiện quy trình thực hành: 
Trong một bài thực hành, bước hướng dẫn thường xuyên là chiếm nhiều thời gian nhất. Vậy để theo dõi và đánh giá đúng kết quả thực hành của HS yêu cầu người GV phải thực sự linh hoạt trong việc đánh giá này. GV có thể kết hợp một số phương pháp sau:
- Kiểm tra bằng quan sát ngẫu nhiên. Trong quá trình hướng dẫn thường xuyên GV phải chú ý đến việc đánh giá HS một cách ngẫu nhiên mà không cần thông báo cho HS biết mình đang được kiểm tra. GV áp dụng phương pháp này có thể đánh giá chính xác kỹ năng thực hành của HS. Các biện pháp để thực hiện.
+ GV vừa hướng dẫn cho từng nhóm vừa quan sát thao tác của các HS. Nếu HS làm chưa đúng GV sẽ uốn nắn cho HS .
+ GV để HS thực hành GV quan sát và đánh giá kỹ năng thực hành của HS và ghi chép những đối tượng đã quan sát vào sổ ghi chép. Khi quan sát GV chú ý những điểm sau:
+ Quan sát thao tác của HS để đánh giá kỹ năng: Mức độ chính xác, độ thành thục trong thao tác.
+ Quan sát thái độ thực hành: HS tích cực hay không
+ Quan sát tính sáng tạo trong khi thực hành.
+ Quan sát cách khắc phục những sự cố sai hỏng thông thường: 
- Kiểm tra vấn đáp kết hợp 

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_doi_moi_to_chuc_day_hoc_ket_hop_doi_moi_danh_gia_nang_c.doc