Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kỹ năng giải các dạng bài tập Địa lý Lớp 9 THCS

Vẽ biểu đồ:
- Vẽ biểu đồ là hình thức chuyển kênh chữ (số liệu) thành kênh hình. Vì vậy biểu đồ là một hình vẽ cho phép biểu thị các số liệu cần thiết, các mối tương quan giữa các yếu tố hoặc mô tả một cách dễ dàng động thái phát triển của một qúa trình (ví dụ quá trình phát triển của ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…qua các năm; quá trình phát triển dân cư…) hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể (ví dụ như cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu nhóm tuổi…)
- Các loại biểu đồ rất đa dạng và phong phú, tương đối phức tạp vì mỗi loại biểu đồ có thể được dùng để biểu hiện nhiều chủ đề khác nhau như biểu đồ tròn (2 biểu đồ so sánh, các biểu đồ tròn độc lập), biểu đồ đường (biểu đồ đường biểu diễn tốc độ tăng trưởng của đối tượng so với một thời điểm lấy làm gốc), biểu đồ miền, biểu đồ cột (cột đứng, thanh ngang, cột chồng, cột kép…). Vì vậy khi vẽ biểu đồ, việc đầu tiên là phải đọc kĩ đề bài, tìm hiểu chủ đề định thể hiện trên biểu đồ (thể hiện động thái phát triển, so sánh tương quan hay thể hiện cơ cấu...). Sau đó căn cứ vào chủ đề đã được xác định để lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất.
Sáng Kiến Kinh Nghiệm - Phạm Thị Huệ - THCS Vĩnh Tường RÈN KỸ NĂNG GIẢI CÁC DẠNG BÀI TẬP ĐỊA LÝ LỚP 9 THCS Người viết: Phạm Thị Huệ Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Vĩnh Tường Đối tượng bồi dưỡng: Học sinh giỏi lớp 9 Số tiết: 20 A. ĐẶT VẤN ĐỀ Địa lí trong nhà trường THCS là bộ môn khoa học có đặc thù riêng, vừa nghiên cứu các vấn đề mang quy luật của tự nhiên, vừa nghiên cứu các vấn đề về kinh tế xã hội. Vì vậy nó góp phần vào mục tiêu chung trong đào tạo con người mới. Đây là môn học mà học sinh được tiếp xúc ngay từ các lớp dưới. Sau khi hoàn thành chương trình PTTH, Địa lí là một trong những môn thi tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng và được xếp chủ yếu vào khối C. Trong các đề thi môn Địa lí gồm có hai phần: Lí thuyết và thực hành. Phần thực hành tuy chiếm tỉ lệ nhỏ trong bài thi, song nó giúp cho việc hoàn tất nội dung bài thi để đạt số điểm cao. Hơn thế nữa, thực hành kĩ năng Địa lí là một yêu cầu rất quan trọng trong việc học môn Địa lí, ngay từ các lớp dưới nếu học sinh được tiếp xúc và có kĩ năng làm bài tập thực hành, đó sẽ là cơ sở cho việc học tập môn Địa lí ở các cấp tiếp theo. Xuất phát từ thực tế giảng dạy bộ môn, từ yêu cầu của việc đổi mới giáo dục, từ việc ôn luyện cho học sinh, bản thân tôi thấy rằng việc dạy và rèn rũa cho học sinh ở cấp THCS một số kĩ năng về các dạng biểu đồ, nhận xét số liệulà rất cần thiết. Giúp học sinh có hứng thú khi học tập bộ môn và phát huy được khả năng thông minh, sáng tạo cho học sinh ngay từ các lớp dưới. Trong tình hình chung hiện nay trên thế giới có nhiều biến động, diễn ra mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, y tế, môi trường và ngay cả trong lĩnh vực giáo dục. Những thành tựu về KHKT và công nghệ tiên tiến đã được áp dụng vào mọi vấn đề trong cuộc sống. Nền giáo dục của nhiều 167 Sáng Kiến Kinh Nghiệm - Phạm Thị Huệ - THCS Vĩnh Tường muốn kinh tế phát triển, củng cố an ninh xã hội, giải quyết tốt các vấn đề xã họi hiện nay như: Bảo vệ môi trường sinh thái, chống ô nhiễm, suy kiệt tài nguyên, chống những căn bệnh thế kỷ, kiểm soát dân số, xoá đói giảm nghèo, vấn đề việc làm, an toàn giao thôngTrước hết phải chăm lo cho nguồn nhân lực kế tiếp có phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu đổi mới của đất nước. Sự nghiệp giáo dục phải đào tạo những lớp người mới có tri thức, có đầu óc khoa học, những con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo đáp ứng yêu cầu của thời đại. Nhằm đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh hoà nhập cùng khu vực và thế giới. Trong nhà trường môn Địa lí giúp các em có kiến thức phổ thông cơ bản về thiên nhiên, môi trường sống của con người, về những hoạt động của con người ở mối Quốc gia trên khắp thế giới. Bước đầu hình thành cho các em thế giới quan khoa học, tư tưởng tình cảm đúng đắn và làm quen với việc vận dụng kiến thức Địa lí để giải thích các hiện tượng về môi trường tự nhiên, xã hội xung quanh, đáp ứng với đất nước và xu thế của thời đại. Đổi mới chương trình giáo dục là đổi mới về: Nội dung SGK (cả nội dung, cấu trúc, hình thức), về chương trình, về phương pháp, về cách đánh giá học sinh đã đặt ra mục tiêu mới cho bộ môn: - Về kiến thức: Giúp các em hiểu biết về tự nhiên, tài nguyên, môi trường, dân cư, kinh tế - xã hội. Trên cơ sở những kiến thức phổ thông cơ bản cần thiết. - Kĩ năng: Học sinh sau khi học xong cần có kĩ năng tương đối thành thạo (Kĩ năng: quan sát, nhận biết, phân tích, so sánh và vận dụng để giải thích tự nhiên, xã hội. Vận dụng vào đời sống sản xuất từng địa phương). - Thái độ tình cảm: Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, yêu con người lao động, có niềm tin vào khoa học, có ý thức khám phá, tìm hiểu tự nhiên, ý thức công dân và sự định hướng nghề nghệp phục vụ Tổ quốc sau này. 169 Sáng Kiến Kinh Nghiệm - Phạm Thị Huệ - THCS Vĩnh Tường Các bài thực hành yêu cầu vẽ sơ đồ, nhận xét số liệu, nhận xét lược đồ, biểu đồ là những bài học sinh phải chủ đông tư duy, phát huy khả năng, năng lực bản thân. Học sinh được trao đổi tiếp nhận kiến thức một cách thoải mái, tự tin trên cơ sở kiến thức đã học. Nhìn chung, chương trình Địa lí 9 đã đưa vào số tiết thực hành tương đối nhiều giúp việc dạy - học thêm sinh động, hứng thú, thoải mái. Việc tiếp thu kiến thức chủ động hơn, đỡ nhàm chán, giúp cho việc kiểm tra đánh giá chính xác hơn. Như vậy, rõ ràng thực hành đia lí là phần kiến thức không thể thiếu trong chương trình Địa lí nó phát huy cao hơn khả năng tiếp thu kiến thức của người học, củng cố tốt nhất cho phần kiến thức đã học. Chuyên đề xây dựng: - Chủ yếu trong phạm vi chương trình Địa lí 9, với nhiều bài thực hành mới mẻ với học sinh, nhằm giúp các em tiếp thu bài tốt đặc biệt trong vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí => Yêu cầu người dạy có phương pháp hướng dẫn học sinh dễ hiểu nhất => người học có kĩ năng làm các dạng bài tập thực hành. - Phương pháp hướng dẫn học sinh làm một số bài tập thực hành: Vẽ các dạng biểu đồ, nhận xét số liệu thống kê, củng cố kiến thức đã học thành kiến thức dưới dạng sơ đồ cho dễ hiểu, dễ thuộc bài. B. NỘI DUNG: CÁC DẠNG BÀI TẬP THỰC HÀNH TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÍ 9. I. NỘI DUNG. 1. Vẽ biểu đồ: - Vẽ biểu đồ là hình thức chuyển kênh chữ (số liệu) thành kênh hình. Vì vậy biểu đồ là một hình vẽ cho phép biểu thị các số liệu cần thiết, các mối tương quan giữa các yếu tố hoặc mô tả một cách dễ dàng động thái phát triển của một qúa trình (ví dụ quá trình phát triển của ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tảiqua các năm; quá trình phát triển dân cư) hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể (ví dụ như cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu nhóm tuổi) 171 Sáng Kiến Kinh Nghiệm - Phạm Thị Huệ - THCS Vĩnh Tường + Cơ cấu các loại đất. + Cơ cấu cấp học. + Cơ cấu ngành giao thông vận tải. - Cách vẽ: Bước 1: + Nếu bài cho số liêu thô (số liệu tuyệt đối) thì việc đầu tiên là phải xử lí số liệu sang số liệu tinh (%) sau đó lập bảng số liệu đã xử lí theo mẫu. Chú ý khâu làm tròn sao cho tổng các thành phần đúng bằng 100%. + Nếu phải vẽ hai hoặc nhiêu hình tròn (hình vuông) cần lưu ý xem các hình tròn đó có cần thiết phải vẽ với độ lớn khác nhau không. Nếu vẽ to nhỏ khác nhau phải tính qui mô hình tròn ( vận dụng công thức toán học để tính). Bước 2: + Vẽ theo qui tắc bắt đầu từ “ tia chỉ 12 giờ” thuận chiều kim đồng hồ, số liệu vẽ theo thứ tự đầu bài cho sẵn. + Vẽ các hình quạt tương ứng với tỉ trọng của từng thành phần trong cơ cấu. Ghi trị số % vào các hình quạt tương ứng. Vẽ đến đâu kẻ vạch đến đó đồng thời thiết lập bảng chú giải. + Ghi đầy đủ tên biểu đồ, đơn vị, thời gian Lưư ý: Khi lập bảng số liệu, lấy thêm cột góc ở tâm trên biểu đồ tròn (độ) khi vẽ cho nhanh. 1.3/ Vẽ đồ thị (biểu đồ đường) - Đồ thị (đường biểu diễn) thường được sử dụng biểu diễn qui trình biến động của một hiện tượng qua thời gian dài (10 – 20 năm). - Cách vẽ: Tạo hệ trục + Trục tung: Thể hiện độ lớn của đại lượng (số người, tỉ lệ phần trăm, phần nghìn) có vạch trị số lớn hơn trị số lớn nhất trong chuỗi số liệu đề bài ra, có mũi tên chỉ chiều gia tăng. Có ghi đơn vị tính với khoảng cách bằng nhau. Gốc toạ độ lấy trị số bằng 0, song cũng có thể lấy trị số khác 0 cho phù hợp với đề bài. 173 Sáng Kiến Kinh Nghiệm - Phạm Thị Huệ - THCS Vĩnh Tường + Không bỏ xót các dữ liệu đã cho (giống như các bài toán), nếu bỏ xót dữ liệu dẫn đến sai xót đáng tiếc. + Phân tích đi từ khái quát đến cụ thể. + Nếu cần chuyển số liệu tuyệt đối sang số liệu tương đối để so sánh, phân tích, tổng hợp. + Tìm mối quan hệ của số liệu theo hàng ngang, hàng dọc. + Việc phân tích các số liệu thống kê gồm hai phần: * Nhận xét mối quan hệ giữa các số liệu. * Giải thích nguyên nhân (dựa vào kiến thức đã học để giải thích) II. MỘT SỐ BÀI TẬP MINH HOẠ CỤ THỂ. 1/ Các bài tập thực hành rèn luyện kĩ năng về vẽ biểu đồ hình cột: Bài tập 1: (Bài tập 2 trang 99 – SGK Địa lí 9) Dựa vào bảng số liệu sau: Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản theo các tỉnh, năm 2002 Các tỉnh, Đà Quảng Quảng Bình Phú Khánh Ninh Bình thành phố Nẵng Nam Ngãi Định Yên Hoà Thuận Thuận Diện tích (nghìn 0,8 5,6 1,3 4,1 2,7 6,0 1,5 1,9 tấn) a. Hãy vẽ biểu đồ thể hiện diện tích nuôi trồng thuỷ sản ở các tỉnh, thành phố của vùng duyên hải NTB năm 2002. b. Cho nhận xét? * Bài giải: a. Vẽ biểu đồ: BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN DIỆN TÍCH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN Ở CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ CỦA VÙNG DUYÊN HẢI NTB 175 Sáng Kiến Kinh Nghiệm - Phạm Thị Huệ - THCS Vĩnh Tường Tỉnh Lâm Đồng Đắc Lắc Gia Lai Kon Tum % 0 10 20 30 40 50 60 70 c. Nhận xét: Năm 2003 độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên không đều nhau. cụ thể: - Tỉnh còn nhiều rừng là Kon Tum, Lâm Đồng. - Tỉnh còn ít rừng là: Đắc Lắc, Gia Lai. =>Vấn đề bảo vệ rừng và trồng rừng mới là vấn đề cấp bách của vùng. Bài tập 3: Căn cứ bảng số liệu sau: Dân số thành thị và nông thôn ở thành phố HCM ( nghìn người) Vùng 1995 2000 2002 Năm Nông thôn 1174,3 845,4 855,8 Thành thị 3466,1 4380,7 4623,2 a. Vẽ biểu đồ cột chồng thể hiện dân số thành thị và nông thôn ở thành phố HCM qua các năm. b. Nhận xét? * Bài giải: a. Vẽ biểu đồ. Bước 1: Xử lí số liệu ra % 177 Sáng Kiến Kinh Nghiệm - Phạm Thị Huệ - THCS Vĩnh Tường ĐB sông Cửu 819,2 119,1 1354,5 long Cả nước 1584,4 2250,5 2647,4 a. Vẽ biểu đồ cột thể hiến sản lượng thuỷ sản ở ĐB SCL và cả nước. b. Nêu nhận xét? * Bài giải: a/ Vẽ biểu đồ: BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN SẢN LƯỢNG THUỶ SẢN Ở ĐB SCL VÀ CẢ NƯỚC n ấ t 3000 n 2647.4 ì h g 2500 2250.5 N 2000 1584.4 ĐB sông Cửu long 1500 1354.5 1169.1 Cả nước 1000 819.2 500 0 1995 2000 2002 Năm b. Nhận xét: Qua biểu đồ và bảng số liệu: - Sản lượng thuỷ sản của ĐB SCL và cả nước đều tăng. Năm 2002 so với năm 1995 thì: + ĐB SCL tăng 1,65 lần. + Cả nước tăng 1,67 lần. => Cả nước tăng nhanh hơn ĐB SCL song không đáng kể. - Sản lượng thuỷ sản của ĐB SCL qua các năm đều chiếm tỉ lệ cao so với cả nước. Vượt 50%. Cụ thể: + 1995 chiếm 51,7% so với cả nước. 179
Tài liệu đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_ren_ky_nang_giai_cac_dang_bai_tap_dia.doc